Trong tiếng Ý “chiaro” là ánh sáng và “scuro” là bóng đổ, Chiaroscuro là một kỹ thuật trong hội họa, theo đó các tông màu tương phản được sử dụng để diễn tả độ sâu ba chiều, hoặc để tạo một không gian cụ thể. Từ bức tranh “Adoration of the Magi” của Leonardo da Vinci cho đến những bức tranh đầy kịch tính của Caravaggio hay tràn đầy cảm xúc như tranh của Rembrandt đều sử dụng thủ pháp chiaroscuro ở một mức độ nào đó.

<em>“Martyrdom of Two Saints” (Tạm dịch: Nhị Thánh Tử Vì Đạo) khoảng1 527-1530, bởi Antonio da Trento, phỏng theo Parmigianino. Tranh in mộc bản Chiaroscuro in từ ba bản gỗ khắc màu nâu xám nhạt, nâu xám trung và đen, 29,21cm x 48,26cm. (Ảnh: Phòng trưng bày nghệ thuật quốc gia)</em>
“Martyrdom of Two Saints” (Tạm dịch: Nhị Thánh Tử Vì Đạo) khoảng1 527-1530, bởi Antonio da Trento, phỏng theo Parmigianino. Tranh in mộc bản Chiaroscuro in từ ba bản gỗ khắc màu nâu xám nhạt, nâu xám trung và đen, 29,21cm x 48,26cm. (Ảnh: Phòng trưng bày nghệ thuật quốc gia)

Tranh in mộc bản chiaroscuro Ý tạo ra ánh sáng và bóng đổ như các bức tranh thời Phục Hưng bằng cách sử dụng một loạt các bản khắc gỗ khác nhau về tông màu, kết hợp lại để tạo ra một bản in.

Không có nhiều thông tin về lịch sử tranh in mộc bản chiaroscuro Ý; nhiều bản in không để ngày tháng chúng được làm ra hoặc ai làm ra chúng. Không có bình luận rõ ràng trong lịch sử về tranh in mộc bản chiaroscuro ngoại trừ các ghi chép về các nghệ sĩ được viết bởi các nhà viết tiểu sử đương thời, nhà sử học nghệ thuật và nghệ sĩ Giorgio Vasari (1511 -1574).

Chỉ biết rằng Ý và Đức dường như đồng thời phát triển các phiên bản in chiaroscuro của riêng họ.

Phát triển tranh mộc bản Chiaroscuro ở Ý

<em>“Hercules và Sư tử Nemean”, vào khoảng năm 1518 bởi Ugo da Carpi, phỏng theo Raphael hoặc Giulio Romano. Tranh in Mộc Bản Chiaroscuro từ hai bảng gỗ khắc màu xanh và đen, 29,8cm x 22cm. Bảo tàng Anh, Luân Đôn. (Ảnh: Người được ủy thác của Bảo tàng Anh)</em>
“Hercules và Sư tử Nemean”, vào khoảng năm 1518 bởi Ugo da Carpi, phỏng theo Raphael hoặc Giulio Romano. Tranh in Mộc Bản Chiaroscuro từ hai bảng gỗ khắc màu xanh và đen, 29,8cm x 22cm. Bảo tàng Anh, Luân Đôn. (Ảnh: Người được ủy thác của Bảo tàng Anh)

Tranh in mộc bản chiaroscuro Ý bắt đầu ở Venice khi Ugo da Carpi (sinh năm 1480 và mất từ khoảng năm 1520 -1532) tiếp cận Thượng Viện Venice để bảo vệ phương pháp in mới của ông “chiaro et scuro” khỏi bị sao chép. Năm 1516, Thượng viện Venice đã trao cho ông một đặc ân, bằng sáng chế, bảo đảm vai trò của Ugo với tư cách là một người in mộc bản chiaroscuro duy nhất ở Ý trong hơn một thập kỷ.

<em>“Nhà triết học Diogenes”, khoảng 1527 - 1530, bởi Ugo da Carpi, phỏng theo Parmigianino. Tranh in mộc bản Chiaroscuro từ bốn bản gỗ khắc màu xanh lá cây nhạt, xanh lá cây trung bình, nâu và nâu sẫm, tình trạng iii / iii, 47.94cm x 33.97cm. Quỹ Pepita Milmore Memorial. (Ảnh: Phòng trưng bày nghệ thuật quốc gia)</em>
“Nhà triết học Diogenes”, khoảng 1527 – 1530, bởi Ugo da Carpi, phỏng theo Parmigianino. Tranh in mộc bản Chiaroscuro từ bốn bản gỗ khắc màu xanh lá cây nhạt, xanh lá cây trung bình, nâu và nâu sẫm, tình trạng iii / iii, 47.94cm x 33.97cm. Quỹ Pepita Milmore Memorial. (Ảnh: Phòng trưng bày nghệ thuật quốc gia)

Ông đã phát triển kỹ thuật Tranh in mộc bản chiaroscuro từ việc sử dụng mộc bản nét và một mộc bản màu cho đến bốn mộc bản màu. Ugo với khả năng kỹ thuật cao và kết hợp với những nghệ sĩ như Titian, Raphael đã tạo nên một nền tảng vững chắc cho tranh in mộc bản chiaroscuro Ý. Tác phẩm nổi tiếng nhất của Ugo là “Nhà triết học Diogenes”, khoảng năm 1527 -1530, được thực hiện với sự cộng tác của Parmigianino (1503-1540) được cho là ví dụ điển hình nhất của bất kỳ chiaroscuro nào. Parmigianino là một họa viên mẫu mực, người đã khéo léo thực hiện các bản in mộc bản chiaroscuro bằng cách sử dụng loại mực tốt và kỹ năng in ấn chính xác. Ông làm việc tại Bologna trong khoảng thời gian từ 1527 đến 1530, chiêu mộ Antonio da Trento, một nghệ nhân in ấn, người đã chuyển thành thạo các thiết kế duyên dáng của Parmigianino.

<em>“Nhị Thánh Tử Vì Đạo”, vào khoảng 1527-1530 bởi Antonio da Trento, phỏng theo Parmigianino. Tranh in mộc bản Chiaroscuro từ ba mộc bản màu xanh nhạt, xanh trung và đen, tình trạng ii / ii, 28.26cm x 47cm. Quà tặng của Andrew Robison. (Ảnh: Phòng trưng bày nghệ thuật quốc gia)</em>
“Nhị Thánh Tử Vì Đạo”, vào khoảng 1527-1530 bởi Antonio da Trento, phỏng theo Parmigianino. Tranh in mộc bản Chiaroscuro từ ba mộc bản màu xanh nhạt, xanh trung và đen, tình trạng ii / ii, 28.26cm x 47cm. Quà tặng của Andrew Robison. (Ảnh: Phòng trưng bày nghệ thuật quốc gia)
<em>“Nhị Thánh Tử Vì Đạo”, vào khoảng 1527-1530 bởi Antonio da Trento, phỏng theo Parmigianino. Tranh in mộc bản Chiaroscuro từ ba mộc bản màu nâu xám nhạt, nâu xám trung bình và đen, tình trạng i / ii, 29,21cm x 48,26cm. Quà tặng của Ruth Cole Kainen. (Ảnh: Phòng trưng bày nghệ thuật quốc gia)</em>
“Nhị Thánh Tử Vì Đạo”, vào khoảng 1527-1530 bởi Antonio da Trento, phỏng theo Parmigianino. Tranh in mộc bản Chiaroscuro từ ba mộc bản màu nâu xám nhạt, nâu xám trung bình và đen, tình trạng i / ii, 29,21cm x 48,26cm. Quà tặng của Ruth Cole Kainen. (Ảnh: Phòng trưng bày nghệ thuật quốc gia)

Xưởng của Giuseppe Niccolò Vicentino (1470-1560), hoạt động vào khoảng những năm 1540, trở thành nhà sản xuất tranh in mộc bản chiaroscuro tốt nhất trong thế kỷ 16. Xưởng đã phát triển các phương pháp sản xuất hiệu quả với các bản in đặc trưng với tông màu bão hòa mạnh. Phần lớn các bản in của Vicentino là các thiết kế của Ý từ giữa những năm 1510 đến cuối những năm 1530, bao gồm cả những bản vẽ của Raphael và Parmigianino.

<em>“Hercules và Sư tử Nemean”, Khoảng năm 1560, bởi Nicolò Boldrini, sau Niccolò Vicentino (sau trường phái Raphael.) Tranh in mộc bản Chiaroscuro được in từ hai mộc bản màu nâu và đen, 29.53cm x 41.28cm. Quỹ Pepita Milmore Memorial. (Ảnh: Phòng trưng bày nghệ thuật quốc gia)</em>
“Hercules và Sư tử Nemean”, Khoảng năm 1560, bởi Nicolò Boldrini, sau Niccolò Vicentino (sau trường phái Raphael.) Tranh in mộc bản Chiaroscuro được in từ hai mộc bản màu nâu và đen, 29.53cm x 41.28cm. Quỹ Pepita Milmore Memorial. (Ảnh: Phòng trưng bày nghệ thuật quốc gia)

Vào những năm 1540, họa sĩ theo phong cách Sienese, Domenico di Pace Beccafumi (1486 – 1551) đã sử dụng các tranh in mộc bản chiaroscuro để thể hiện những cảnh ấn tượng, ông tinh chỉnh kỹ thuật để thực hiện những thiết kế tinh xảo với ánh sáng trang nhã. Không giống như các đồng nghiệp của mình, Beccafumi đã tự thiết kế và cắt các mộc bản cho riêng mình, điều chỉnh các kỹ thuật cốt lõi của tranh in để phù hợp với trí tưởng tượng sống động và đầy nghệ thuật; ông đã sử dụng các công cụ và phương pháp cắt độc đáo, và cũng thay đổi quy trình đổ mực.

<em>“Tông đồ cầm sách”, khoảng năm 1540, bởi Domenico Beccafumi. Tranh in mộc bản Chiaroscuro được in từ bốn mộc bản màu đỏ nhạt, đỏ trung, đỏ xám và đen, 40,48cmx 21.43cm. (Ảnh: Thư viện Quốc hội, Phòng In và Ảnh, Washington, D.C.)</em>
“Tông đồ cầm sách”, khoảng năm 1540, bởi Domenico Beccafumi. Tranh in mộc bản Chiaroscuro được in từ bốn mộc bản màu đỏ nhạt, đỏ trung, đỏ xám và đen, 40,48cmx 21.43cm. (Ảnh: Thư viện Quốc hội, Phòng In và Ảnh, Washington, D.C.)

Từ những năm 1530 đến 1580, các họa sĩ và nhà in người Ý tiếp tục khám phá tranh in mộc bản chiaroscuro, cũng như sao chép các thiết kế nổi tiếng vào giữa thế kỷ XVI của các danh họa Titian, Raphael và Parmigianino. Kỹ thuật này đã được điều chỉnh phù hợp hơn khi tranh in mộc bản chiaroscuro lan rộng ra bên ngoài các trung tâm nghệ thuật chính, từ Cremona đến Naples.

<em>“Allegory of Virtue,” (tạm dịch:Ngụ ngôn Đạo Đức) 1585, bởi Andrea Andreani, phỏng theo Jacopo Ligozzi. Tranh in mộc bản Chiaroscuro được in từ bốn mộc bản màu nâu nhạt, nâu trung, nâu sẫm và đen, tình trạng i / ii, 48.26cm x 33.02cm. Quỹ Bruce Ailsa Mellon. (Ảnh: Phòng trưng bày nghệ thuật quốc gia)</em>
“Allegory of Virtue,” (tạm dịch:Ngụ ngôn Đạo Đức) 1585, bởi Andrea Andreani, phỏng theo Jacopo Ligozzi. Tranh in mộc bản Chiaroscuro được in từ bốn mộc bản màu nâu nhạt, nâu trung, nâu sẫm và đen, tình trạng i / ii, 48.26cm x 33.02cm. Quỹ Bruce Ailsa Mellon. (Ảnh: Phòng trưng bày nghệ thuật quốc gia)

Bắt đầu các tác phẩm chiaroscuro của mình vào khoảng năm 1583, các tác phẩm hoành tráng của Andrea Andreani (khoảng 1558 – 1629) đã khiến ông trở thành người tài giỏi nhất trong thời của mình. Ví như tác phẩm “Triumph of Julius Caesar” (Chiến thắng của Julius Caesar) (1599), phỏng theo Andrea Mantegna, được ghép từ 10 tờ với kích thước khổng lồ 36.04cm x 380.05cm. Andreani đã nâng tầm tranh in mộc bản chiaroscuro bằng cách cải tiến kỹ thuật và chỉnh sửa các thiết kế để thu hút những người sành nghệ thuật và các nhà sưu tập. Thành tựu của ông nhờ việc hợp tác với các nghệ sĩ thành công đương thời, và sao chép các tác phẩm điêu khắc, phù điêu bằng đồng và các thiết kế bằng đá cẩm thạch (inlay), ngoài các chủ đề tranh in mộc bản chiaroscuro truyền thống là chỉ sao chép từ các bức vẽ.

<em>“Eva”, năm 1587, bởi Andrea Andreani, phỏng theo Domenico Beccafumi. Tranh in mộc bản Chiaroscuro được in từ bốn mộc bản màu nâu đất, xám nâu, nâu sẫm và đen, 46.04cm x 31.43cm. Quỹ Andrew W. Mellon. (Ảnh: Phòng trưng bày nghệ thuật quốc gia)</em>
“Eva”, năm 1587, bởi Andrea Andreani, phỏng theo Domenico Beccafumi. Tranh in mộc bản Chiaroscuro được in từ bốn mộc bản màu nâu đất, xám nâu, nâu sẫm và đen, 46.04cm x 31.43cm. Quỹ Andrew W. Mellon. (Ảnh: Phòng trưng bày nghệ thuật quốc gia)

Hàn Mặc