Miệng tuy không lớn, nhưng ảnh hưởng mà nó mang lại thì không nhỏ chút nào. Có người thì miệng thốt ra hoa ra ngọc, chuyên an ủi, làm ấm lòng người; còn có người thì chuyên nói lời xằng bậy, điên đảo thị phi, hại người hại mình. Có thể nói rằng phúc hay họa đều từ miệng mà ra.

Tại hai quốc gia lâu đời nhất ở phương Đông là Trung Quốc và Ấn Độ cổ đại, họ có thái độ vô cùng nghiêm túc đối với việc giữ gìn khẩu đức.

Không bàn về đúng sai của người khác, tài tử tránh được tai họa

Văn Trưng Minh (1470-1559) là một trong bốn đại tài tử của vùng đất Ngô Trung dưới thời nhà Minh. Ông có khá nhiều thành tựu ở lĩnh vực thư pháp và văn học. Lúc bấy giờ danh tiếng của ông rất lớn, nổi tiếng khắp vùng Giang Nam, rất nhiều người đến bái ông làm thầy.

Ông ngày thường không thích nghe đàm luận về việc sai quấy của người khác. Nếu có ai đó muốn luận về đúng sai của người khác, thì ông luôn khéo léo lảng sang đề tài khác, khiến người đó không thể tiếp tục bàn luận thị phi được nữa. Trong suốt cuộc đời mình, ông luôn duy trì thói quen này, một đời chú trọng tu khẩu đức.

Khi đó, Ninh Vương Thần Hào có ý muốn chiêu mộ Văn Trưng Minh, do đó đã sai người mang thư và rất nhiều tiền của đến Văn gia. Văn Trưng Minh lấy cớ bệnh nặng nằm liệt giường để từ chối, sau đó cũng không viết thư hồi đáp lại Ninh Vương.

Sau khi sứ giả rời đi, một người bạn của ông khuyên nhủ rằng: “Hiện nay, Ninh Vương là người mà tất cả người trong thiên hạ đều muốn quy phục. Trong vương phủ của ông ta trống một chức quan, muốn thỉnh mời ngài đến đó đảm nhiệm chức vụ. Sao ngài chẳng học theo Mai Thừa, Tư Mã Tương Như mà vào hưởng phúc nơi vương phủ?”

Văn Trưng Minh nghe xong chỉ cười mà không nói lời nào. Ông có khả năng nhận biết và phán đoán về một người, có thể ông đã sớm biết Ninh Vương là người như thế nào, nhưng cũng không vì vậy mà bàn luận về đúng sai của ông ta. Vào năm thứ 14 Minh Vũ Tông Chính Đức (năm 1519), Ninh Vương Thần Hào nổi loạn ở Nam Xương và cuối cùng bị Vương Dương Minh đánh bại. Ninh Vương vì mưu phản mà khiến bản thân thân bại danh liệt.

Văn Trưng Minh kiên quyết không bàn luận đúng sai của người khác, thái độ sống cao thượng của ông cũng khiến mọi người kính trọng.

Thi rớt cũng có nguyên nhân

Ở huyện Nghi Hưng có một người tên gọi là Phan Thư Thăng. Vào mùa thu năm Khang Hi thứ 23 (1684), Phan Thư Thăng nằm mộng, trong mộng anh ta đi đến điện Quan Đế, trùng hợp trông thấy một người đang chấm bài thi. Sai nha gọi tên người thứ nhất, người thứ nhất vừa bước vào thì ngay lập tức đã bị đuổi ra lại; tên người thứ hai được xướng chính là Phan Thư Thăng; người thứ ba và người thứ năm đều không đến. Anh ta lại nhìn thấy phía trên tường có treo một cái bảng vàng, tên xếp vị trí đầu bảng chỉ có hai chữ là Vi Tiếp, mà không có họ. Một lúc sau, một người mặt đỏ xuất hiện, người này đội một chiếc mũ lên đầu của anh ta

Phan Thư Thăng sau khi tỉnh lại thì cảm thấy rất kinh ngạc. Sau khi yết bảng, quả nhiên anh ta đỗ vị trí đầu bảng. Anh ta nhớ lại cái tên “Vi Tiếp” đã xuất hiện trong mộng, do vậy liền đi khắp nơi hỏi thăm về người này. Về sau được biết người này là Phó Lộc Dã ở huyện Lâu.

Phó Lộc Dã cũng là một người tài hoa và có danh tiếng trong vùng. Văn chương của Phó Lộc Dã ở hai đợt thi trước được đánh giá rất cao, quan chủ khảo vốn dĩ định chấm bài thi của anh ta ở vị trí đầu bảng, nhưng vì bài thi của anh ta ở đợt thi thứ ba bị mất, do đó đành đánh rớt anh ta vậy.

Nghe nói rằng Phó Lộc Dã rất có tài ăn nói. Tuy nhiên, anh ta bình sinh rất thích bàn luận về đúng sai cũng như khuyết điểm của người khác. Có người từng phân tích rằng, sở dĩ Phó Lộc Dã thi rớt, công danh bị tước là bởi vì anh ta không tích khẩu đức.

Sau khi danh sách đỗ đạt được công bố, quan chủ khảo vì tiếc nuối tài hoa của Phó Lộc Dã, nên đã đặc biệt hẹn gặp riêng anh ta. Nhưng sau đó, Phó Lộc Dã đã rất uất hận, không lâu sau thì qua đời vì bị chướng bụng, thật khiến người ta đau lòng.

Nói lời xấu ác, bị hóa thành con sâu lớn

Khi Đức Phật Thích Ca còn tại thế, cạnh thành Vương Xá có một cái hồ, nước bên trong hồ khá bẩn, toàn là phẩn tiện ô uế. Tất cả những đồ vật bẩn thỉu ô uế của các gia đình sống trong thành đều đổ hết xuống cái hồ này.

Trong hồ có một con sâu lớn, hình dáng tựa con rắn, nhưng lại có bốn chân, quanh năm suốt tháng sống trong hồ đó. Có một lần, Đức Phật Thích Ca dẫn các đệ tử đến bên hồ, rồi hỏi mọi người liệu có ai biết về túc duyên của con sâu này không? Mọi người đáp rằng: “Chúng con không biết”.

Đức Phật khai thị rằng, vào thời xa xưa, có năm trăm vị thương nhân đi biển làm ăn buôn bán và thu hoạch được rất nhiều châu báu. Họ đã dùng những báu vật quý giá nhất để cúng dường cho các tăng nhân, làm nguồn thực phẩm cho họ, phần tài vật còn lại do các tăng nhân tự bảo quản. Lúc đó có 10 vạn tăng nhân đang tu hành trong núi, họ đã tiếp nhận cúng dường của các thương nhân, đồng thời đem toàn bộ châu báu tài vật giao hết cho tăng nhân ma-ma-đế bảo quản.

Khi nguồn thực phẩm gần cạn, các tăng nhân muốn lấy lại những châu báu đã gửi. Nhưng không ngờ, ma-ma-đế lại nuốt lời không thừa nhận, xem tất cả châu báu đó là của cải của chính mình, còn tức giận mắng mọi người rằng: “Bọn người bẩn thỉu các ngươi, những báu vật này đều thuộc sở hữu của ta, các ngươi dựa vào đâu mà đòi lại?”, chúng tăng trông thấy anh ta đã khởi tâm sân giận, thân tâm bị vây chặt bởi ác niệm, do đó liền lập tức rời đi.

Bởi vì ma-ma-đế tham lam, chiếm đoạt tài vật công hữu, lại ác độc mắng nhiếc chúng tăng, sau khi chết bị đọa vào địa ngục, bị ngâm trong phân tiểu sôi sùng sục, trải qua 92 kiếp như vậy mới được thoát ly khỏi địa ngục. Đến thời đại của Đức Phật Thích Ca, ma-ma-đế vẫn chưa thể có được thân người.

Tài liệu tham khảo:

  • Ngọc đường tùng ngữ
  • Phần “Không truyền rộng điều ác, thường tán dương điều thiện” trong An sĩ toàn thư, quyển hạ
  • Hiền ngu Kinh

Do Đỗ Nhược thực hiện
Oanh Lê biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc từ Epoch Times Hoa Ngữ

Xem thêm: