Tiếp theo của phần IX

XXX: Bài viếng quan đốc Dương(1)

(của Nguyễn-Khuyến, Tam-nguyên Yên-đồ) 

Bắc Dương thôi đã thôi rồi ! 

Cỏ mây man-mác ngùi-ngùi lòng ta ! (2) 

Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước, 

Vẫn sớm khuya tôi bác cùng nhau (3). 

Kính yêu từ trước đến sau, 

Dẫu trong gặp gỡ khác đâu duyên giời (4) 

Cũng có lúc rong chơi đất khách, 

Nước doành nghe róc-rách lưng đèo (5). 

Có khi từng gác treo leo, 

Bỡn-bờ con hát lựa chiều cầm xoang (6). 

Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp, 

Chén quỳnh-tương ăm-ắp bầu xuân (7). 

Có khi bàn soạn câu văn, 

Xiết bao “đông-bích” “điền-phần” trước sau ! 

Gặp ách bận biết đâu là số (8) ! 

Miếng đầu thăng ai có phụ giới (9)

Bác già, tôi cũng già rồi (10), 

Biết thôi, thôi thế thì thôi mới là ! 

Muốn đi lại tuổi già thêm nhác (11) ! 

Trước ba năm gặp bác một lần, 

Cầm tay hỏi hết xa gần, 

Mừng thầm bác vẫn tinh thần chưa can (12)  

Tuổi tôi lại còn hơn tuổi bác (13), 

Mà tôi đau trước bác mấy ngày(14). 

Bỗng đâu thư phó tới ngay (15) ! 

Chợt nghe tôi đã chân tay rụng rời

Ai chẳng biết chán đời là phải ! 

Vội vàng chi đã mải lên tiên (16)

Rượu ngon không có bạn hiền, 

Không mua, không phải không tiền không mua. 

Câu thơ nghĩ đắn-đo muốn biết, 

Viết đưa ai, ai biết mà đưa ? 

Giường kia treo những hững-hờ ? 

Đàn kia gẩy cũng ngẩn-ngơ tiếng đàn ! 

Bác chẳng ở, dẫu van chẳng ở, 

Tôi có thương, cũng chớ nên thương (17). 

Tuổi già hạt lệ như sương, 

Hơi đâu chắp lấy hai hàng chứa chan (18) 

(Theo quyển Việt-túy tham-khảo sách viết bằng chữ nôm của Trường Bác-cổ, AB 386, tờ 46 b)

XXXI (19): Vịnh giời (20) 

Nghiệm trước hồn nhiên nẻo triệu thành, 

Nhưng nhưng gồm được khí khinh-thanh. 

Nghìn trùng xa thẳm hằng chu phủ, 

Tám tiết xoay-vần vốn kiện hành. 

Đức cả giội nhuận, nhuần vạn tượng, 

Ơn nhiều dưỡng khắp, khắp quần sinh. 

Dù hay sang-sửa dòng trung đạo (21), 

Vị dục công phồn thuở thái-hanh. 

(Trích trong Ngự-đề Thiên-hòa doanh bách vịnh thi tập, sách viết bằng chữ nôm của Trường Bác-cổ, số AB 544, tờ 3 a )

XXXII: Vịnh đất 

Phản đoan khen ai khéo tạo đoan, 

Đặt làm chuẩn cọng có bao hoàn.

Thế phương trọng địch trơ-trơ vững, 

Hình ẩn chân càng phắc phắc yen, 

Nơi cầu sơn cao, nơi thủy mị, 

Chốn vi hồ cứ, chốn long bàn. 

Dung tàng thẩy thẩy, khôn so vi, 

Tư-trưởng muôn loài thể lượng khoan.

(Trích trong Thiên-hòa doanh bách vịnh, tờ 3 b.)

XXXIII: Vịnh người 

Hiệu cửu hoàng xưa đã thét danh. 

Dựng hơn thứ vựng rất tinh anh. 

Bình tâm dốc vẹn bề trang tin, 

Xuất tinh biền-chiền giữ hiếu thành. 

Gây đặng kỷ-cương nên biểu thịnh, 

Sửa-sang pháp-luật ắt chiêu minh, 

Tuệ thông đứng ấy giời dành hậu, 

Dành này tuy-du mở trị lành.

(Trích trong Thiên-hòa doanh bách vịnh, tờ 3 b.).

(Còn nữa)

Ứng hòe – NGUYỄN VĂN TỐ

 (Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

1) Dương-Khuê, thường gọi là cụ nghè Vân đình. Bài viếng cụ đã có nhiều người in ra quốc ngữ, nhưng xét ra không có bản nào đúng với bản sao của trường Bác-cô.  

2) Có bản in là “nước mây man mác ngậm-ngùi lòng ta”.

3) “Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau”.

4) “Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên giời.”  

5) Cũng có lúc chơi nơi dặm khách, Tiếng suối nghe róc-rách lưng đèo”.

6) “Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang”

7) “Chén quỳnh-tương ôm-ấp bầu xuân”.

8) “Bước hoạn nạn gặp đâu ra thế”.  

9) “Miếng đẩu thăng há dám tham giời”. Có bản chữ nôm chép hai câu ấy như thế này: Gặp ách vận biết đâu kỳ số, phận đẩu thăng ai có phụ giời”. 

10)  Bản in quốc ngữ dịch là “Tôi già, bác cũng già rồi”. 

11) “Đường đi lại tuổi già thêm nhác”. 

12) “Mừng rằng bác vẫn tinh thần chua can”. 

13) “Tuổi tôi kề còn hơn tuổi bác”.

14) “Tôi lại đau trước bác mấy ngày”.

15) “Làm sao bác vội về ngay ?”.  

16) Có bản nôm chép là  “Vội vàng chi mà mải lên tiên”. 

17) Bảo quốc ngữ in là “tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương”.

18) “Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan …” 

19) Những bài thơ lấy trong quyển Ngự-đề Thiên-hòa doanh bách vịnh thi tập của Trịnh-Căn (1682-1709, có người gọi là Trịnh-Côn) chưa ai dịch ra quốc-ngữ. Tôi có nói đến tập thơ này trong quyền Bulletin de l’École française d’Extrême-Orient từ năm 1930, quyển XXX, trang 144; nhưng từ bấy giờ đến nay vẫn chưa có ai in ra quốc ngữ. Bài tựa bằng chữ nho dịch ra như sau này: “ Ta kính nối nghiệp nhớn, vui tin vận sáng. Ngày mới gần hai mươi tuổi, đương lúc dùng việc võ, vâng mệnh vượng phụ (tức là Trịnh Tạc,1657-1682) giao cho việc lo liệu đi đánh, nhờ oai giời làm rõ công đánh dẹp. Mầm ác họ Nguyễn Tây-sơn vị như than bay ngói vỡ, lũ nhà Mạc thì như tổ đốt kiến tan. Nam bắc bụi sạch, bờ cõi rộng rãi, kính theo phép thịnh, trông mong ơn nhớn, tôn ngôi giời để dạy dân, đem văn minh để bảo kẻ dưới. Thanh giáo thấm khắp trăm quan, đức nghiệp xa ra chín cõi, dùng người giỏi, tuyên luật lệ, đặt cách chính tâm tu thân, mở phép trị quốc, bình thiên hạ. Nhân lúc muốn việc thong thả, trong lòng vui vẻ, xét đạo lý giời đất, xem nguồn gốc thánh đạo; nói tóm từ nhỏ đến nhớn, lúc thu nhận lấy ý hội làm mấy vần thơ quốc âm theo đường-luật, khắc thành hơn một trăm bài, sai đề là Ngự chế Thiên-hòa-doanh bách vịnh. Hầu rõ lúc ưu-du ngẫm nghĩ, đào dưỡng nguyên chân, rực rỡ khí giới, không phải là bình phong vật, khoe họa tảo (đẹp đẽ). Nay làm tựa. – Đại nguyên súy thống quốc chính thượng thanh phụ sư thịnh công nhân minh uy- đức Định vương đề tựa ở điện Thiên-hòa”.

20) Trên chữ “thiên” (vịnh giời) có bốn chữ “ tam diệu đại thống”.

21) Các nhà nho theo lỗi chữ nôm bây giờ đọc là  “Dù xem sang dải dùng trung đạo”, nhưng không có nghĩa gì, cho nên chúng tôi thiết nghĩ rằng có lẽ phải đọc là “Dù hay sang sửa dòng trung đạo”. Dòng “trung đạo” là quãng đường ở giữa giới ở trên, đất ở dưới, người ta và muôn vật ở khoảng giữa. Tạo hóa có thể sửa sang xoay vần việc này việc khác, sinh hóa muôn vật. – Lối chữ viết ở quyển Thiên-hòa doanh bách vịnh xem ra rất khó; sau này thu thập được nhiều, chúng tôi sẽ làm một bài khảo cứu về các lối chữ nôm từ lối khắc trên mặt bia đến những lối viết trong các sách cổ.