Tiếp theo của phần III

VII : Cửa bể Hà-Lồ 

Nước bốn bề, đất một khu, 

Nơi Hoằng-hóa, cửa Hà-lồ, 

Đỏ hoe hết tóc người đường bể, 

Trắng lợp đầy đầu sóng bến đò. 

Gió giật cờ tuần Ghềnh dải diện. 

Hương tuôn cửu miếu Núi sườn bò, 

Lạ thay bãi có hòn là đá !. 

Chia nửa ông câu, nửa cái hồ.

(Trích ở Quốc-âm thi-ca tạp-lục, sách viết bằng chữ nôm của Trường Bác-cổ, số AB 296, tờ 16a. (1) )

VIII : Ghềnh Nga 

Ngoài ngã tư, trong ngã ba, 

Ngang một lạch gọi ghềnh Nga. 

Chênh-chênh mấy dịp con cầu trúc. 

Sát-sát nghìn tầm cài trệ la. 

Ác xuống chợ chiều đen ngỡ mực, 

Hồ về cây tối trắng nhưng hoa.

Phao tung cảnh mọn công khi ấy

Tám bức giang thiên một đỉnh già. 

Quốc, âm thi ca tạp lục, tờ 16 b.

IX : Nam-Công cánh phượng 

Đá ấy là xương, cỏ ấy lông, 

Giời nam đứng giữa gọi Nam-công. 

Kia giai bóng rợp dân muôn dặm, 

Dương cánh che phù giời chín trùng. 

Lóng-lánh kiền-khôn thế giới, 

Nghênh-ngang xuân hạ thu đông. 

Đã nên cảnh vật ngoài điền-dã, 

Ngóng cổ trông về đất nổi rồng. 

(Quốc-âm thi-ca tạp-lục, tờ 17a)

X : Động Bạch-hạc 

Trổ-tạc cao thay bởi thợ giời, 

Hang thiêng nuôi được cái con dơi. 

Bốn mùa hoa cỏ xuân nhường một,

Muôn dặm yên-hà người thiếu đôi.

Rửa lòng trần, sông leo lẻo, 

Che tai thế, khói phơi-phơi.

Cuộc cờ đắp đổi dù Tần Tấn, 

Non hãy trơ-trơ nước chẳng dời.

?

Đỉnh thứu này sao mãi mãi giời (2) ? 

Tay thiêng trổ-tạc gọi hang dơi. 

Động khua mõ cả không lỏng Bụt, 

Cửa ngỏ râu tôm xấu mặt giời.. 

Đá thuở mưa thôi màu ác nhuốm, 

Trúc khi tuyết tạnh vẻ beo phơi. 

Buồm ai thênh dưới ghềnh mồ-nẹt? 

Chợt mảng kềnh đưa tếch tới nơi.

(Quốc-Âm thi-ca tạp-lục tờ 15 a-b)

XI : Gái quá thì (3) 

Ngán nỗi nỗi con, biết chăng, hỡi mẹ ? Tình mới tình, nghĩ những khóc thầm; thế thôi thế, lặng mà nói sẽ.

Xôn-xao oanh yến kẻ bắc người nam, ánh ỏi ong ve kẻ già người trẻ Năm chờ tháng đợi, tơ Nguyệt lão mong se; rầy ước mai ao, bóng Hằng-nga muộn xế, Nghĩ rằng xuân-xanh có một, liễu yếu không hai; chẳng thấy chữ “đào yêu” đâu mà liệu, ắt đến câu “mai-phiếu” hắn kia rồi. Cái hồng-nhan chi mấy ở đời, nghĩ lại chẳng chơi cũng thiệt, con bạch-thỏ chẳng ăn được bóng, đành duyên đằm-thắm mà thôi ! Tạo-hỏa kia sao khéo hững-hờ, đông-phong ấy vì ai ngăn đón ?

Hỡi chị em ơi!… Đêm năm canh vuốt bụng thở dài, ngại đường gia thất; ngày sáu khắc than thân rằng bạc, ngàn nỗi chồng con. Tính đốt ngón tay đã trót ba vòng, tuổi ấy hãy còn chưa gặp; đo bóng đất hầu gần năm thước, thân này ai bảo chẳng khôn ?

Lễ nghi gia giận sao phận bạc thi nghị gia thẹn với lòng son: nỗi nước non những giận lương nhân, trông mà chẳng thấy; đường giăng gió luồng chờ quân tử, nghĩ lại rằng buồn !. Phỏng gặp người nho sĩ là may, số tôn vinh hẳn đó; dù gặp kẻ nông phu cũng đẹp, phận yên-phù hẳn còn. Dẫu mà may mắn cũng là, đành cái phận, kẻo còn bàn may rủi; dẫu và xấu xa cũng lấy, đành cái duyên, thôi đừng nói già non ! 

Sao mà phận bạc như vôi ?. Kim vàng bỡ uốn, rèm mai-hiên tên sẻ chẳng đưa, buồng dạ hợp chăn loan những luống !. Cũng tưởng rồng gặp mây, cá gặp nước, đây vui mà đấy cũng vui: nào ngờ chim liền cánh, cây liền cành; ta muốn, nhưng người chẳng muốn !. Hay là tài hèn sức mọn, trống chung-tình da thủng đánh không kêu. Hay là phận hẩm duyên hôi, gương tri-kỷ bóng mờ soi chẳng thấy. Hay là chốn xuân-viên đã lạnh, khách xem hoa thẹn mặt chẳng chơi. Hay là vườn hồng-hạnh đã tàn, người bỏ nhị kén tay chẳng lấy. Hay là nói-năng thua chúng bạn, đề duyên đằm-thắm hỏa bẽ-bàng. Hay là trang- điểm kém chị em, để phận hồng nhan ra duồng-dẫy.

Vậy biết phận đà đành phận, lòng hãy vững lòng: duyên kỳ-ngộ xưa nay là thế, tình hợp-hoan ai bảo chẳng thông !. Đạm-Tiên kia tài-sắc không hai, duyên bạc phận cũng nhiều phen xếch-mếch; Thúy-Kiều nọ nết-na có một, số đoạn-trường còn lắm lúc long-dong !. Thôi thì may rủi bởi giời, sớm muộn cũng đành cái phận, chê khen mặc thế, trước sau cũng một tấm chồng !.

Trích ở Quốc văn tùng ký sách việt bằng chữ nôm của trường Bác-cổ, số AB 383, quyển thượng, tờ 18a 19b. (4)

Ứng hòe NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

  1. Những bài thơ cổ trích ở quyền Quốc âm thi ca tạp lục, từ trước đến giờ, chưa có ai in ra chữ quốc ngữ.
  2. Câu này chép theo bản chữ nôm của một người bạn trong Thanh-hóa; bản của Bác-cổ thiếu một chữ.
  3. Bài phú này chép trong Quốc văn tùng ký đề là Quá xuân nữ phú có biên tên tác giả là Lê Quý Đôn đời Cảnh hưng, nhưng không lấy gì làm chắc; xét ra chưa ai in ra quốc ngữ.
  4. Có một người Pháp thích đọc văn nôm, đến Bác cổ hỏi tôi sao không viết tên sách vào chỗ phụ chú (như tôi đã biên quyển Quảng tập viêm văn), để cho ai nấy tìm sách mà so sánh và xem thêm. Tôi trả lời rằng đối với quyển Quảng tập viêm văn thì khác: tác giả là ông Edmond Nordemann đã quá cố đi rồi; chứ đối với những quyển mới xuất bản, còn bán ở các hiệu sách, thì có lẽ không tiện, vì làm thế nào cũng có vẻ bới móc xoi bói. Vả lại tôi vẫn định khi nào in xong những tài liệu của Bác cổ, nếu không có ai có bản năm nào khác, tôi sẽ sắp đặt lại cho có thứ tự, đem dịch ra chữ Pháp, thích nghĩa cho phân minh, và đăng vào trong tập kỷ yếu của hội Trí tri. Nhưng người Pháp lại bảo rằng tuy vậy cũng nên có một cái số kể tên các sách văn tuyển, dù chỉ dùng cho việc học thư tịch cũng không phải là vô ích (ne serait-ce qu’au point de vue bibliographique). Tôi chiều ý kê ra đây, nhưng không kê hết, vì kê cả các loại sách như quyển Việt hán văn khảo của ông Phan kế-Bính, hay những quyển quốc văn độc bản, cùng những mục văn cổ đăng trong Nam phong tạp chí, đồng đương tạp chí, v. v… thì phải in đến năm sáu trang báo.

Vậy chỉ kê những quyển văn tuyển như sau này: Nordemann Quảng tập viêm văn, Chrestomathie annamite, Hanoi 1898. – Dương tụ-Quán, Vận văn bách tuyển, Hanoi, Đông tây ấn quán. 1930 – Trần tuấn Khải, Việt văn dẫn giải, Hanoi, Nam kỷ thư quán, 1932.- G. Cordier Morceaux choisis d’auteurs annamites Hanoi Lê văn Tân. 1932. – Văn đàn bảo giám, Hà nội, Nam ký, 1932, ba quyển. Những áng văn hay, Hà nội, Nam ký, 1933. – Nguyễn Văn Ngọc, Nam thị hợp tuyển, Hà nội, Vĩnh hưng long 1934. – Lê thành Ý và Nguyễn Hữu Tiền, Việt văn hợp tuyển, giảng nghĩa, Hà nội, Imprimerie tonkinoise, 1936. – Sử bình tử, Thi văn với thời đại, Huế, Tiếng dân 1935, – Phi bằng, Thi văn các nhà chí sĩ Việt nam, Huế, Tân thanh, 1939. – Dương quảng Hàm, Việt văn giáo khoa thư, Hà nội, nha Học chính Đông Pháp xuất bản, 1940. – v.v..