Tiếp theo của số 5

Bia Văn-miếu với sử Cương mục (chính-biên, quyển 17, tờ 22a) đều chép năm Đại-bảo thứ ba (tức là năm 1442) mới bắt đầu đặt lệ dựng bia đề tên những ông “tiến-sĩ cập-đệ”, “tiến-sĩ xuất-thân” và “tiến-sĩ đồng-xuất-thân”.

Nhưng về triều Lê, trước năm Đại-bảo, đã có vài khóa thi, tưởng nên kê ra đây nhân thể, đề ghi tên các bậc danh-thần và các nhà văn-học có tiếng: Có ông làm nên hiển-hách như ông Đào-công-Soạn, có ông để lại những sách-vở có giá-trị như Ông Phan phu-Tiên. 

Ông Đào-công-Soạn, tên tự là Tân-khanh người ở Thiện-phiến (Tiên-lữ). Năm bính-ngọ (tức là năm 1426, Đăng khoa lục, 9. 1, tờ 1a, chép là năm Trần Thiên khánh thứ nhất), vua Lê Thái Tổ (1418-1433) ra chơi Đông-đô, mở khoa thi, ông đỗ đầu. Khoa ấy trúng tuyển tất cả là ba mươi hai người (giáp-đệ 26 người, ất đẳng 6 người); nhưng chỉ tìm thấy có tên ông Đào-công-Soạn và tên hai người nữa, là Nguyễn Dực và Nguyễn-Vĩ (theo Đăng khoa lục).

Hồi đó vua Lê Thái-Tổ mới lấy được nước, sai người sang trần-tình với nhà Minh. Ông Đào công-Soạn được cử làm Hoàng môn thị-lang tham-tri chính sự; đi sứ Tàu về, làm thượng thư bộ Hộ. Năm Thuận-thiên thứ hai (1429) làm đầu-mục, sung chánh-sứ đi cầu phong và tâu về việc tìm con cháu nhà Trần. Về, làm Đồng-đạo tham-tri. Năm Thiện-bình thứ nhất (1434) làm tri thẩm-hình-viện-sự. Mùa đông năm sau (1435) tháng Thẩm-hình viện sứ, kiêm Lễ- bộ thượng-thư.

Lúc ấy sử nhà Minh sắp sang, vì ông am-hiểu ngôn-ngữ. tường tận điền-cố nên vua Thái-Tôn (1433 1442) sai giữ việc ứng-tiếp. Mùa xuân năm Bính-thìn (1436) lại đi chánh sứ sang nhà Minh. Mùa thu năm Đinh-tị (1437) làm Môn-hạ tả-thị-lang, tham-trĩ Bắc đạo bạ-tịch. 

Năm Giáp-tí là năm Thái-hòa thứ hai (1444), lại sang cống nhà Minh. Lúc về làm Nhập-thị kinh diện.

Mùa hè nam Kỷ-tị (1449), vì tuổi già xin trí-sĩ, vua Nhân-Tôn (1442-1457) không cho, gia cho làm Nhập-hội đại-hành-khiển, tri tam-quán-sự.

Năm Diên-ninh Bính-tí (1456), vua thấy ông là kẻ lão-thần am hiểu mọi việc, cử lên Thái-nguyên xem-xét việc bờ cõi, lúc ấy đã gần tám mươi. Phần nhiều luật-lệ quốc-triều ông soạn ra cả. Tính ông khiêm-cung kiệm-ước, không khác gì người học-trò, lại có vẻ phong-độ danh-thần, thơ rất thanh-tao. Bộ Toàn-Việt thi lục của ông Lê-quý-Đôn (sách viết của Bác-cổ, số A 1262, 9-7, tờ 41b-42b) còn sao lại ba bài, đề Lão-mai, Trù-tịch cảm-hưởng, Xuân-nhật phỏng hữu bất ngộ.

Ông mất năm 78 tuổi. Con là  Đào-Dung cũng đi xứ. Tằng-tôn là Đào-Nghiễm đỗ đồng-tiến-sĩ xuất-thân năm Thống-nguyên thứ hai (1523). Huyền-tôn là Đào Phạm cũng đỗ đồng-tiến-sĩ xuất thân năm Chính-trị thứ mười một (1568) (Chép theo Lịch-triều hiến-chương, 9-7; Toàn-Việt thi lục, 9-7; Đại-Nam nhất thống chí, Hưng yên tĩnh, tờ 15b; Đăng khoa lục, 9-1, tờ 1 a).

Năm kỷ-dậu là năm Thuận thiên thứ hai (1429), mùa hè tháng năm, thi khoa “minh-kinh”, Vua Lê Thái-Tổ ( chiếu cho các quan trong ngoài tự tứ phàm trở xuống, cùng những quân-nhân ở mọi phủ mọi lộ. và những kẻ sĩ-phu ẩn-dật ở chốn sơn-lâm, ai thông kinh-sử, giỏi văn-nghệ, hết thảy cho đến tỉnh-đường ở kinh-đô hội thi (Đăng Khoa lục, 9.1, tờ 1a). Không rõ danh số các người trúng-tuyển, duy còn chép lại tên ông Triệu-Thái (xem Tri-tân, số 26, trang 12), ông Trình-thuấn-Du (xem Tri-tân, số 27, trang 9). ông Phan-phu-Tiên và bốn ông nữa sẽ kể sau.

Ông Phan-phu-Tiên, người làng Đông-ngạc, huyện Từ-liêm,  tỉnh Sơn-tây ngày xưa. Đỗ Thái học-sinh khoa Quang-thái nhà Trần (1396), lại đỗ khoa “minh kinh” năm Thuận-thiện nhà Lê (1429). Làm quan ở viện Quốc sử (theo Đại Việt sử-ký mục-lục, tờ 11a), sau ra làm An-phủ-sứ ở Thiên-trường (Toàn-Việt thi-lục, 9-10, tờ 1a), giữ chức Quốc-tử bác-sĩ (Cường-mục, 9-18, tờ 28b): Tên tự là Tín-thần, tên hiệu là Mạc-hiện. Soạn bộ Đại Việt sử ký (tiếp theo Sử ký của Lê văn Hựu, quãng nhà Trần 1225-1493 từ Trần Thái-Tôn đến Trần Trung Quang-Đế) và quyển Việt-âm thi tập. Quyển này ở Bác-cổ có hai bản, một bản chữ (A 1925) và một bản nôm (AB 7). Bản nôm chép một bài vịnh Văn-miến như Sau này:  Thần-minh dòng trước nẻo Thương Thang, 

Thư ngọc lầu-lầu sớm ứng tường. 

Đức cả hồn-toàn so Thái-cực. 

Đạo màu tinh-túy sinh tam quang. 

Giáo là đàn hạnh còn vang đạc 

Phép để Kinh Lân hãy sáng gương. 

Nền mở thái-bình nhuần tám cõi, 

Thử hình thức-thức đối thiên trường. 

(Còn nữa) 

Ứng-hòe NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)