Cuộc đời Gia Cát Lượng gần như được viết nên bởi truyền kỳ. Những điều xảy ra với ông đã tạo nên một trang hào hùng rực rỡ trong lịch sử Tam Quốc.

Một phần của bức tranh " Gia Cát Lượng" của Trương Chi vào thời nhà Minh, do Bảo tàng Cung điện Quốc gia ở Đài Bắc sưu tầm. (Phạm vi công cộng qua Epoch Times)
Một phần của bức tranh ” Gia Cát Lượng” của Trương Chi vào thời nhà Minh, do Bảo tàng Cung điện Quốc gia ở Đài Bắc sưu tầm. (Phạm vi công cộng qua Epoch Times)

Gia Cát Lượng là một trong những nhân vật làm mưa làm gió thời Tam Quốc. Ông nhận lời thỉnh cầu “Tam cố mao lư” (ba lần đến lều tranh) của Lưu Bị, xuất sơn giúp đỡ họ Lưu, thúc đẩy liên minh Tôn Quyền, Lưu Bị. Trong trận Xích Bích đại phá Tào Tháo, đặt nền móng cho thế chân vạc, tạo ra thế cuộc Tam Quốc.

Trí huệ Gia Cát Lượng vinh quang thiên cổ 

Gia Cát Lượng từng “thiệt chiến quần Nho” (Khẩu chiến với các Nho sĩ quần thần Đông Ngô), mượn gió đông, mưu trí sắp đặt đường Hoa Dung, giành được Kinh Châu tạo nên cơ nghiệp. Sau này, ông phụng mệnh dẫn quân tiến vào Tứ Xuyên. Trong chiến dịch tại núi Định Quân, Gia Cát Lượng thông minh, kích động Hoàng Trung, trảm Hạ Hầu Uyên, đại phá quân Tào Tháo, cuối cùng đoạt được Hán Trung.

Gia Cát Lượng diễn giải binh pháp, chế tạo ra Bát quái đồ, hầu như bách chiến bách thắng. Ngoài ra ông còn là bậc kỳ tài về ‘khoa học kỹ thuật’. Những thứ do ông phát minh ra như trâu gỗ ngựa gỗ, đèn Khổng Minh (đèn trời), cung tên Liên nỗ Gia Cát… Suy nghĩ thần diệu lạ lùng của ông khiến người đời sau kinh ngạc không ngừng thán phục. Ông còn viết cuốn “Mã tiền khóa”, lưu lại những lời dự ngôn thiên cổ. Khả năng siêu thường này cũng khiến hậu thế ngưỡng mộ khôn xiết.

Những cỗ máy do Gia Cát Lượng sáng chế như ngựa gỗ, đèn lồng Kongming, và Gia Cát Lượng, cùng những ý tưởng đáng kinh ngạc của họ, đã làm kinh ngạc các thế hệ sau. Hình ảnh cho thấy Kongming Lantern được lắp đặt ở Pingxi, New Taipei City, Taiwan. (Lin Bodong / Epoch Times)
Những cỗ máy do Gia Cát Lượng sáng chế như ngựa gỗ, đèn lồng Kongming, và Gia Cát Lượng, cùng những ý tưởng đáng kinh ngạc của họ, đã làm kinh ngạc các thế hệ sau. Hình ảnh cho thấy Kongming Lantern được lắp đặt ở Pingxi, New Taipei City, Taiwan. (Lin Bodong / Epoch Times)

Giới Tử Thư – tình yêu thương sâu thẳm của người cha 

Đằng sau một Gia Cát Lượng oai phong một cõi, lại là một tấm lòng nhân hậu của người cha.

Giới Tử Thư, là lời giáo huấn của Gia Cát Lượng khi 54 tuổi dành cho con trai 8 tuổi của ông là Gia Cát Chiêm. Ông nói: “Phi đạm bạc vô dĩ minh chí, phi ninh tĩnh vô dĩ trí viễn”. (Nghĩa là: Trong tâm không thể điềm tĩnh, ít ham muốn, thì không minh xác rõ chí hướng. Thân tâm không thanh tịnh, thì không thể thực hiện giấc mộng cao xa). 

Về sau, câu này được cô đọng lại thành “đạm bạc minh chí, ninh tĩnh trí viễn” (đạm bạc sáng chí, thanh tĩnh chí xa), được hậu thế vô cùng tôn sùng.

Gia Cát Lượng không phải kẻ tầm thường, trên thông thiên văn dưới tường địa lý, văn thao võ lược, tinh thông mọi thứ. Tại sao ông lại dùng “đạm bạc minh chí, ninh tĩnh trí viễn” để giáo dục con?

Đạm bạc minh chí, ninh tĩnh trí viễn

“Đạm bạc” mà Gia Cát Lượng kỳ vọng không phải là để con trai là Gia Cát Chiêm là kẻ tầm thường không có chí tiến thủ, ẩn thân trốn đời, sống nơi núi rừng hoang dã, sống trong “đạm bạc”, cũng không phải để con lười nhác an dật, sống cho qua ngày đoạn tháng, lặng lẽ sống trong “ninh tĩnh” một đời.

Gia Cát Lượng hy vọng con trai “đạm bạc minh chí”. Khi trong tâm không có tạp niệm, vô dục vô cầu thì sẽ khiến chí hướng càng trở nên sáng tỏ và kiên định. Trong trạng thái thanh tỉnh, lý tính này thì người ta sẽ không bị danh lợi trói buộc, không bị thế gian phồn hoa cám dỗ, ăn mòn. 

Khí độ đạm bạc đó giống như nước chảy mây bay, tỏa ra như khói mây lan tỏa, kiên cường như tùng bách trong mưa tuyết gió sương vẫn đứng thẳng vươn mình.

Đồng thời, Gia Cát Lượng khuyên bảo con trai “Ninh tĩnh trí viễn”. Muốn giữ được tâm thái tốt, cần khắc phục sự nông nổi, kiêu căng. Chỉ khi lòng người thanh tĩnh, mới có thể cao xa, sâu thẳm như bầu trời cao rộng. Nếu một người có thể có được sự yên tĩnh như vậy, khả năng quan sát nhìn nhận sự vật nhất định sẽ lâu dài. 

Nhờ vào sức mạnh của “đạm bạc”, chí hướng của người ta sẽ càng kiên định; nhờ vào tâm thái “ninh tĩnh”, người ta sẽ càng thêm sáng suốt, hiểu rõ vạn vật, gặp phải biến cố không sợ hãi. Dù gặp phải thế sự nào trong đời, đều có thể “Cùng tắc độc thiện kỳ thân, đạt tắc kiêm thiện thiên hạ” (đại ý: khi khốn cùng thì thiện riêng bản thân, khi hiển đạt thì khiến cả thiên hạ thiện lương).

Bức tranh vẽ dãy núi Shoutong của Jin Jie của triều đại nhà Thanh. Bộ sưu tập của Bảo tàng Cung điện Quốc gia, Đài Bắc. (Phạm vi công cộng qua Epoch Times)
Bức tranh vẽ dãy núi Shoutong của Jin Jie của triều đại nhà Thanh. Bộ sưu tập của Bảo tàng Cung điện Quốc gia, Đài Bắc. (Phạm vi công cộng qua Epoch Times)

Chính thì tất tĩnh, tĩnh tất minh 

Trong Đỗ Thi Ngôn Chí thời nhà Thanh có chép, “Chí vu khoan nhàn chi dã, tịch mịch chi tân, mỗi tự ngụ kỳ thiên hoài chi nhạc, nhi đạm bạc minh chí, ninh tịnh trí viễn, vị thưởng bất xử xử lưu lộ”. (Tạm dịch Ở nơi đồng nội hoang dã rộng lớn nhàn nhã, bên bờ hồ nước tĩnh lặng tịch mịch, tự thấy niềm vui trong vòng tay rộng lớn của trời đất, nên đạm bạc minh chí, ninh tĩnh trí viễn, đâu đâu cũng hiển hiện ra).

Đọc được những tâm sự tha thiết và khổ tâm của Thánh hiền khi giáo huấn con, tâm trạng cũng theo đó mà suy nghĩ xa xôi. Khi một người không tính toán được mất nhất thời trước mắt, tự nhiên sẽ có trí huệ hiểu thấu thế sự. Chắc hẳn đó chính là ý nghĩa đích thực của “đạm bạc minh chí, ninh tĩnh trí viễn” vậy.

Theo Song Sapphire Blue, Vương Cẩn biên tập
Biên dịch: Thanh Mai