Khi năm học mới bắt đầu, các vấn đề về giáo dục luôn nhận được nhiều sự quan tâm. Và báo chí sẽ lại phải tốn nhiều giấy mực để ngợi ca hoặc để chỉ trích tính hiệu quả của nền giáo dục tại Hoa Kỳ. Và sẽ có những cuộc tranh luận xoay quanh tiêu chuẩn cốt lõi chung và liệu những tiêu chuẩn này có thực sự mang đến hiệu quả cho giáo dục hay không. Và lại sẽ có các cuộc tranh cãi về việc liệu học sinh sẽ tiếp thu kiến thức hiệu quả hơn với sách vở hay với máy tính, cũng sẽ có những thống kê về việc nhiều người trẻ thiếu đi những kiến thức nền tảng, và sẽ lại có những phân tích về vấn đề tại sao học sinh tại Hoa Kỳ lại có kết quả học tập thụt lùi so với những quốc gia khác.

Các vấn đề về tiền bạc cũng sẽ trở thành đề tài nổi cộm khi nhắc đến giáo dục. So với Hoa Kỳ, chỉ có duy nhất Na Uy là quốc gia đầu tư nhiều hơn cho học sinh tiểu học và học sinh trung học, tuy nhiên thành tích của những học sinh tại Hoa Kỳ lại kém hơn so với học sinh ở nhiều quốc gia. Và đâu đó lại sẽ có những ý kiến cho rằng chúng ta cần tăng lương cho giáo viên và đồng thời cắt giảm chi phí điều hành. Và một bộ phận công chúng lại cho rằng chúng ta cần phải thuê thêm nhiều giáo viên để giảm số học sinh tính trên mỗi đầu giáo viên. 

Như hầu hết người dân Hoa Kỳ, tôi cũng quan tâm đến những vấn đề nêu trên. Và giống với số đông, quan điểm của tôi, suy cho cùng, không hơn không kém, cũng chỉ là những quan điểm. Vì tôi thực sự thiếu kiến ​​thức chuyên môn để phân tích xem nền giáo dục Hoa Kỳ đang gặp phải những vấn đề gì và điều gì cần phải được thực hiện để cải thiện những vấn đề trên. Trên thực tế, với hơn 50 năm nghe theo lời khuyên các chuyên gia – tuy nhiên, tôi từng là nạn nhân của bộ môn Toán học mới vào giữa thập niên 1960 – và vì thế tôi không chắc có ai đó có thể tìm thấy giải pháp thực sự cho những vấn đề mang tầm vĩ mô này. 

Nhưng tôi đã giảng dạy ở các cuộc hội thảo về tiếng Latin, về môn lịch sử và văn học cho những học sinh theo đuổi giáo dục tại nhà (homeschooling) trong 20 năm. Tôi cũng dạy tiếng Latin trong một trường công lập trong hai năm và từng thực hiện chương trình Giáo dục Cơ bản cho người trưởng thành trong một nhà tù trong hai năm. (Tôi thích nói với các học sinh theo đuổi homeschooling rằng tôi đã dạy trong tù, và điều này khiến các em tò mò và họ tự hỏi liệu tôi đã từng bị giam giữ hay chỉ là một làm giáo dục).

Từ những kinh nghiệm đó, tôi đã học được một số bài học căn bản, những bài học mà nếu được đưa vào thực hiện, có thể khắc phục những hạn chế cố hữu trong hệ thống giáo dục của chúng ta, nó sẽ giúp nền giáo dục phát triển không phải từ trên đi xuống mà là từ dưới đi lên. Dưới đây là một trong số những điều mà tôi đã học được.

Sự góp sức từ các bậc phụ huynh

Dù cho bé Johny được đăng ký học tại một trường tư hoặc trường công hay dù em theo đuổi homeschooling, điều này cũng không mấy quan trọng. Em sẽ trở nên xuất sắc và vượt trội nếu được phát huy hết khả năng của mình — và điều này sẽ càng có cơ sở hơn nếu bố mẹ thực hiện việc theo dõi sự tiến bộ của em bằng cách luôn cập nhật những gì em đang theo học ở trường lẫn tại nhà. 

Nếu như bài tập về nhà được giao quá ít? Hãy đưa thêm sách để Johny đọc. Nếu như có quá nhiều bài tập về nhà? Hãy động viên em và liên hệ với giáo viên. Nếu em gặp khó khăn với môn toán hoặc khó khăn với ngữ pháp và bố cục trong cách viết, hãy hỗ trợ em. Đừng bao giờ quá phụ thuộc vào giáo viên nếu bạn muốn con mình có một nền tảng giáo dục tốt. 

Bạn là cha mẹ của em và cũng là những nhà giáo dục của em ấy, bạn phải có trách nhiệm kèm cặp em và theo dõi những gì em đang học.

Kỳ vọng

Thông thường, cha mẹ và giáo viên tại Hoa Kỳ thường đặt kỳ vọng khá thấp đối với học sinh. Chúng ta đã không thực sự thử thách chúng, chúng ta đã không nâng cao những tiêu chuẩn trong giáo dục, để rồi ta lại tự hỏi về sự tầm thường của chính con em mình. 

Là một giáo viên, tôi đã gặp những phụ huynh – những người cho rằng con của họ đang gặp khó khăn với tiếng Latin. Nhưng tôi đã từng tự hỏi, chúng có thực sự nỗ lực trong việc học môn này hay chưa? Tôi không rõ liệu em học sinh Sally có đang vật lộn với việc ghi nhớ thành phần cuối của danh từ “servus” hay em chỉ xem qua loa cuốn sách trong 15 phút và sau đó dành phần lớn thời gian với chiếc điện thoại của mình? Thường thì đó sẽ là nhận định thứ hai!

Chúng ta quên rằng những người trẻ tuổi rất thông minh và thường thì chúng sẽ mau chóng vượt qua thử thách. 

Tôi xin đưa ra một ví dụ: Tôi từng dạy là 3-R (Đọc, Viết và Hùng biện – Reading, Writing, and Rhetoric) tại một buổi hội thảo dành cho học sinh đang theo đuổi homeschooling ở cấp độ lớp bảy và lớp tám. Mục tiêu của lớp học sáng tác dựa trên văn học này là phát triển các tố chất của một văn nhân trong các em. 

Các học viên được yêu cầu viết nhật ký ba lần một tuần, nộp bài mỗi tuần hoặc mỗi hai tuần, và các em sẽ kết thúc học kỳ mùa xuân với một bài luận dài 1,500 từ với chủ đề “Tôi sẽ ở đâu sau mười lăm năm và tôi phải đánh đổi những điều gì để đạt được mục tiêu đã đề ra”. 

Kết quả là những đứa trẻ tầm 11, 12 và 13 tuổi này có thể sáng tác những tác phẩm với chất lượng tương đương với những bài viết do sinh viên đại học viết.

Yêu cầu cao là yếu tố then chốt để mang đến thành công cho học sinh.

Dạy kiến ​​thức nền tảng

Hai nghìn năm trước, kiến thức nền tảng cần có để được nhận vào Học viện của Plato là kỹ năng đọc, viết và toán học. Một trăm năm trước, kiến thức nền tảng được dạy tại những lớp học ở Hoa Kỳ cũng là đọc, viết và toán học. Tuy nhiên, ngày nay, các em phải học quá nhiều môn đến nỗi những kiến thức căn bản lại được dạy một cách hời hợt hơn. 

Hãy suy xét một cách thấu đáo hơn, nếu chúng ta có thể đọc, viết và phân tích, ta có thể thông thạo bất cứ thứ gì từ lịch sử châu Âu đến môn giải tích nâng cao. Vậy nên khi thiếu đi sự giáo dục cần thiết ở ba kỹ năng: đọc, viết và phân tích, học sinh sẽ gặp phải nhiều khó khăn. 

Năm 2016, Trung tâm Tiến bộ Hoa Kỳ – the Center for American Progress, một tổ chức mang tư tưởng tự do, báo cáo rằng có 40% đến 60% sinh viên đại học năm nhất cần gấp những lớp học phụ đạo về toán, tiếng Anh hoặc cả hai. 

Vì sao? 

Vì họ đã không học những kiến thức nền tảng.

Giới hạn việc sử dụng mạng xã hội 

Khuyến cáo này, vào thời điểm hiện nay, là điều mà ai cũng cho là đúng đắn. Ở bất cứ đâu tôi đến — những quán cà phê yêu thích, thư viện công, hiệu sách — ở đó, trẻ em và thanh thiếu niên đang dí mắt vào điện thoại di động. Chúng hoang phí quá nhiều thời gian dành cho Facebook, YouTube, Twitter và các mạng xã hội khác, điều này dẫn đến sức tập trung của các em trở nên yếu đi, khiến các em khó lòng tập trung và luôn bị cám dỗ những thứ hấp dẫn bên ngoài xã hội hoặc các hình thức giải trí khác. 

Ngoài ra, hãy hạn chế việc sử dụng các thiết bị điện tử, bao gồm việc dành quá nhiều thì giờ cho trò chơi điện tử. Trừ khi đứa trẻ lên mạng để tìm hiểu thông tin để chuẩn bị cho việc viết một bài bình về Thành Cát Tư Hãn hoặc một bài nghiên cứu về sự hình thành và bản chất của các lỗ đen, hãy hạn chế thời gian sử dụng máy tính và điện thoại của các em.

Hãy về phe con mình

Ta nên trấn an các em rằng ta và các con là những người đứng cùng một phe, chúng ta không phải là kẻ thù. Và chúng ta sẽ sát cánh trong trận chiến này – và đôi khi, như hầu hết các bậc cha mẹ và giáo viên đều biết, đó là một trận chiến – và chúng ta có thể dễ dàng giành lấy chiến thắng nếu chúng ta hợp tác cùng nhau. Để sử dụng một cách ví von mang tính thể thao, chúng ta là huấn luyện viên, con cái của chúng ta là những cầu thủ, và đối thủ của ta là sự kém hiểu biết. 

Khơi dậy tình yêu học tập

Nếu bé Tom, 10 tuổi, yêu thích khủng long, hãy đưa bé đến thư viện mỗi tuần một lần để bé xem sách về những loài bò sát thời tiền sử. Nếu bé Grace, 9 tuổi, thích thú với việc sáng tác những câu chuyện và hay những bài thơ ngô nghê, hãy mua cho bé một cuốn nhật ký, hãy mua cho bé những vật dụng văn phòng phẩm xinh xắn để bé viết thư cho ông bà và động viên bé chia sẻ những sáng tác của mình với bạn bè. Nếu bé Martha, 7 tuổi, yêu thích môn đại số, hãy mua cho bé một chiếc máy tính để Martha có thể thỏa thích chơi đùa với những trò chơi toán học. 

Tất cả chúng ta đều muốn những điều tốt nhất cho con mình. Nếu chúng ta có thể cho chúng những công cụ để học tập, và quan trọng hơn, nếu chúng ta có thể tạo cho chúng niềm yêu thích đối với việc học, thì ta đã mang đến cho chúng những điều tốt đẹp nhất.

Ông Jeff Minick có bốn người con và rất nhiều cháu đang ở tuổi lớn. Trong 20 năm, ông đã dạy lịch sử, văn học, và ngôn ngữ Latin cho các học sinh tại Asheville, North Carolina. Ông là tác giả của hai cuốn tiểu thuyết có nhan đề “Amanda Bell” và “Dust On Their Wings,” và hai tác phẩm hiện thực có nhan đề “Learning As I Go” and “Movies Make The Man.” Hiện tại, ông sống và làm việc tại Front Royal, Virginia. Quý vị có thể theo dõi ông tại trang JeffMinick.com.

Song Ngư biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc từ The Epoch Times

Xem thêm: