Quốc gia văn hiến ngàn năm có. Non sông vạn dặm một cơ đồ. Hồng Bàng khai quốc lên ngôi chúa. Đường Ngu mở rộng cõi trời Nam. (Ảnh: NTD Việt Nam tổng hợp)

Cây có cội nước có nguồn, con người ta có tổ tiên. Đất Việt là nơi địa linh nhân kiệt, Đại Việt xưa tự hào là một trong những nước văn minh Á Đông, đã từng được các nước xung quanh như Champa, Chiêm Thành, Chân Lạp, Nam Dương, và các quốc đảo cử sứ thần đến triều phục, xin được bảo trợ. Nền văn hiến hàng ngàn năm đất Việt khởi đầu từ thuở mở đất dựng nước thời Hồng Bàng, giống như dòng sông dài lịch sử cuồn cuộn chảy, trong đó những nhân vật tạo dựng nên nền văn hóa, văn minh các thời đại chính là người kế thừa và lưu truyền nền văn hóa dân tộc suốt mấy nghìn năm qua…

Những người có tuổi hẳn còn nhớ cuộc sống Việt Nam xưa là văn hóa làng xã, người dân chủ yếu sống bằng nghề nông, và không biết chữ, tuy nhiên họ lại sống rất nề nếp, tự ước thúc hành vi bản thân, không khác gì phẩm hạnh của các nhà Nho; thương yêu người khác và quý tiếc sinh mệnh, khá giống với phong cách của các tăng nhân đạo sĩ. Bởi vì họ chịu ảnh hưởng của những người có văn hóa cao trong xã hội bấy giờ là các cụ đồ Nho tu thân theo Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín, và các vị sư tu Thiện, từ bi hỷ xả, trong các ngôi chùa mà làng nào, xã nào cũng có. Thế nên người dân gọi các nho sinh, các hòa thượng, ni cô là sư, là thầy và xưng là con để bày tỏ lòng tôn kính.

Những người có tuổi hẳn còn nhớ cuộc sống Việt Nam xưa là văn hóa làng xã, người dân chủ yếu sống bằng nghề nông, và không biết chữ, tuy nhiên họ lại sống rất nề nếp
Những người có tuổi hẳn còn nhớ cuộc sống Việt Nam xưa là văn hóa làng xã, người dân chủ yếu sống bằng nghề nông, và không biết chữ, tuy nhiên họ lại sống rất nề nếp. (Ảnh qua donggoitrithuc.com)

Việt Nam xưa tự hào là một trong những nước văn minh Á Đông, đã từng được các nước xung quanh như Champa, Chiêm Thành, Chân Lạp, Nam Dương, và các quốc đảo cử sứ thần đến triều phục, xin được bảo trợ…

Nền văn hiến hàng ngàn năm đất Việt khởi đầu từ thuở mở đất dựng nước thời Hồng Bàng, giống như dòng sông dài lịch sử cuồn cuộn chảy, được khái quát qua bài thơ của vua Minh Mạng:

Quốc gia văn hiến ngàn năm có
Non sông vạn dặm một cơ đồ
Hồng Bàng khai quốc lên ngôi chúa
Đường Ngu mở rộng cõi trời Nam

Nguyên văn:

Văn hiến thiên niên quốc
Xa thư vạn lý đồ
Hồng Bàng khai tịch hậu
Nam phục nhất Đường Ngu

Chính những danh nhân là hiện thân của văn hóa, tinh thần đã góp một phần không nhỏ xây dựng nên nền văn hiến rực rỡ ấy. Nếu chỉ tính từ khi có chữ viết ghi chép lại cho tới nay thì có thể điểm qua một số danh nhân văn hóa tiêu biểu dưới đây.

1. Sĩ Nhiếp

Sĩ Nhiếp, còn gọi là Sĩ Tiếp sinh ra ở Giao Chỉ (Việt Nam xưa) vào thế kỷ thứ II, làm Thái thú Giao Chỉ. Ông được các nhà sử học đời sau tôn xưng là Nam Giao học tổ, Sĩ Vương… Sĩ Nhiếp có công lao lớn trong việc dạy chữ, phát triển kinh tế, văn hóa, đào tạo nhân tài, và giữ được thế cuộc bình yên giữa thời chiến loạn Tam Quốc ở phương Bắc. Sử gia Lê Văn Hưu thời nhà Trần nhận xét: “Sĩ Vương biết lấy khoan hậu khiêm tốn để kính trọng kẻ sĩ, được người thân yêu mà đạt đến quý thịnh một thời”.

Sách dạy chữ Hán cho trẻ em Việt Nam xưa là “Tứ tự kinh” có viết: “Thời nước Ngô – Tam Quốc, Sĩ Vương cai quản. Ông dạy Ngũ kinh Tứ thư, gây dựng thuần phong mỹ tục”. (Nguyên văn: Tam Quốc Ngô thời, Sĩ Vương vi mục. Giáo dĩ Thi Thư, huân đào mỹ tục).

văn hoá việt, lịch sử việt
Tượng thờ Sĩ Nhiếp. (Ảnh qua Khoahocdoisong.vn)

2. Khương Tăng Hội

Ông là tăng nhân sinh vào khoảng thế kỷ thứ III ở Giao Chỉ (Việt Nam xưa). Khương Tăng Hội cũng là thiền sư Việt Nam đầu tiên. Hiện nay nhiều người đang đề nghị công nhận ông là ông tổ Thiền tông Việt Nam. Thiền sư Khương Tăng Hội là một trong những người đứng đầu trung tâm Phật giáo Luy Lâu (Bắc Ninh ngày nay) – là một trong những trung tâm Phật giáo lớn trên thế giới đương thời. Ông cũng là một trong những người có công truyền Phật giáo vào Trung Quốc sớm nhất.

Thành Luy Lâu lại do đích thân Sĩ Nhiếp cho xây dựng lại và đặt làm trung tâm chính trị văn hóa của Giao Châu. Luy Lâu là trung tâm giao lưu kinh tế văn hóa hội tụ và kết tinh văn hoá Việt Nam với văn hoá Phật – Ấn, Nam Á và Trung Á, văn hoá Nho Lão (Trung Hoa – Đông Á) để rồi sinh thành bản sắc văn hoá Kinh Việt. Các tăng nhân Ấn Độ theo các tăng đoàn đến Giao Châu, dần dần hình thành nên trung tâm Phật giáo lớn đương thời, sớm hơn cả hai trung tâm Phật giáo ở đất nhà Hán thời đó là Lạc Dương và Bành Thành.

Thiền sư Khương Tăng Hội là một trong những người đứng đầu trung tâm Phật giáo Luy Lâu (Bắc Ninh ngày nay) - là một trong những trung tâm Phật giáo lớn trên thế giới đương thời.
Thiền sư Khương Tăng Hội là một trong những người đứng đầu trung tâm Phật giáo Luy Lâu (Bắc Ninh ngày nay) – là một trong những trung tâm Phật giáo lớn trên thế giới đương thời. (Ảnh chụp màn hình qua zenart.vn)

3. Khuông Việt và Pháp Thuận: Hai thiền sư trợ giúp hai triều đại Đinh – Tiền Lê

Hai triều đại mở ra nền độc lập cho nước Việt là nhà Đinh và Tiền Lê, được hai thiền sư đức lớn, học rộng, tài cao là Khuông Việt (Đinh Tiên Hoàng phong làm quốc sư), và Pháp Thuận trợ giúp đắc lực. Cả hai ông có công lớn giúp vua về cả chính trị, ngoại giao, phát triển văn hoá giáo dục và Phật giáo.

Một số người có thể quen với hình ảnh các nhà sư gõ mõ tụng kinh, khất thực, tọa thiền. Thế nhưng trong lịch sử, những người tu hành Phật Pháp không hề “yếm thế”, “lánh đời” mà họ sống theo giáo lý nhà Phật là tùy duyên, cũng nhiều khi hòa nhập vào xã hội để giáo hóa, độ nhân.

Khi phái bộ sứ đoàn nhà Tống sang nước ta, vua Lê Đại Hành cử hai đại sư là Khuông Việt và Pháp Thuận đón tiếp, sự kiện này đã để lại những giai thoại ngoại giao đặc sắc, trí tuệ, khiến sứ thần phương Bắc khâm phục.

Chân dung Thiền sư Khuông Việt (ảnh trái), Pháp Thuận (ảnh phải).
Chân dung Thiền sư Khuông Việt (ảnh trái), Pháp Thuận (ảnh phải). (Ảnh tổng hợp)

Trước khi sứ thần phương Bắc là Lý Giác về nước, vua Lê Đại Hành lệnh cho thiền sư Khuông Việt viết một khúc nhạc tiễn đưa. Từ khúc “Ngọc lang quy” này còn được lưu truyền ở các thư tịch cổ của cả Việt Nam và Trung Quốc:

Trời quang, gió thuận, cánh buồm giương
Dõi theo sứ thần về cố hương
Ngàn trùng non nước vượt đại dương
Xa xôi hút dặm trường
Tình thắm thiết, xin nâng chén rượu lên đường
Cầm tay nhau, lòng vấn vương…
Nhờ đem ý nguyện người biên cương
Bày tỏ với thượng hoàng

Khi Lý Giác dẫn đầu đoàn sứ thần sang, vua sai thiền sư Pháp Thuận đóng giả anh lái đò nghênh đón. Nhìn cảnh sông nước mênh mông, đôi ngỗng trắng thong dong bơi lội, Lý Giác cảm hứng làm thơ rằng:

Song song ngỗng một đôi
Ngửa mặt ngó ven trời

Anh lái đò vẫn không dừng tay chèo ngâm nga tiếp lời:

Lông trắng phơi dòng biếc
Sóng xanh chân hồng bơi

Lý Giác vốn là Bác sĩ (tức bác học đại sĩ) Quốc Tử Giám của triều Tống, một học sĩ tài năng của nước lớn, nên có ý coi thường nước Đại Cồ Việt non trẻ, nhưng thấy anh lái đò xuất khẩu thành thơ, niêm luật chặt chẽ, lại rất hình tượng như bức họa, có đủ màu sắc trắng xanh biếc hồng, ý cảnh lại hay và thoát tục hơn hai câu của mình, điều này đã khiến ông ta vô cùng bất ngờ và khâm phục, cũng từ đó không dám coi thường người nước Nam nữa.

sử việt
Lý Giác thấy anh lái đò cũng có thể xuất khẩu thành thơ, niêm luật chặt chẽ… mà từ đó không dám coi thường người nước Nam nữa. (Ảnh qua Pixabay)

Khi vua Lê Đại Hành mới lên ngôi, một số cựu thần và dòng tộc triều Đinh không phục tìm cách chống lại, giữa lúc đó nước Tống đang chuẩn bị đem quân sang xâm chiếm, thù trong giặc ngoài, lòng dân hỗn loạn bất an. Vua hỏi kế sách quản lý quốc gia, an bang tế thế, thiền sư Pháp Thuận trả lời bằng một bài thơ mang đậm chất trí tuệ Phật giáo, lại thể hiện tâm thái tích cực nhập thế cứu đời rằng:

Vận nước như mây cuốn
Trời Nam mở thái bình
Vô vi trên điện các
Xứ xứ hết đao binh

Vô vi của Phật giáo được giải thích trong Lục Độ Tập Kinh rằng: “Cẩn thận, không kiêu ngạo, là hạnh của học sĩ, bỏ lòng dơ ân ái, không lấm bụi bặm của sáu tình, không để các ái nhỏ như tóc tơ che giấu trong lòng mình thì các niệm lắng diệt, đó là vô vi”.

Thiền sư Pháp Thuận đã thấy rõ thế cuộc nước Nam chìm trong binh đao loạn lạc, từ đô hộ ngoại bang đến loạn 12 sứ quân, rồi nhà Đinh nội loạn, dân tình rối ren, ngoại bang nhòm ngó. Bởi vậy người trên ngôi cao trong điện các cần đoàn kết quân thần đồng tâm, trên dưới một lòng, đồng thời phải khắc kỷ tu đức, bá quan bách tính mới noi theo. Tư tưởng trị quốc này cũng hoàn toàn giống với luận thuyết của Nho gia rằng: “Quản lý triều chính chính sự cần tu đức, giống như sao Bắc Đẩu, ở vị trí của nó mà muôn sao chầu về”. (Nguyên văn: Vi chính dĩ đức, thí như bắc thần, cư kì sở nhi chúng tinh củng chi).

4. Vạn Hạnh: Quân sư của vua Lê, thầy của vua Lý

Thiền sư Vạn Hạnh được vua Lê Đại Hành rất tín nhiệm, vua đã nhiều lần nghe theo lời khuyên của ông hòa Tống bình Chiêm giúp triều Tiền Lê được hưởng thái bình. Sư Vạn Hạnh có tài tiên tri, ông có nhiều lời sấm ký, trong đó nổi tiếng nhất là tiên đoán việc nhà Lý thay nhà Lê vào 6, 7 năm sau, khi đó thiên hạ thái bình. Ông là người tinh thông Tam giáo: Nho – Phật – Đạo, và là người thầy đã đào tạo ra vị vua anh minh Lý Công Uẩn, người sáng lập nên triều Lý và chính là người có quyết sách sáng suốt khi rời kinh đô từ Hoa Lư về Đại La, tức kinh thành Thăng Long – Hà Nội sau này, khởi đầu một trang sử mới vẻ vang và hào hùng của dân tộc.

Nhà Lý tồn trại trên 200 năm. Các hoàng đế sùng bái Phật giáo và cũng coi trọng Nho giáo với việc mở các trường đại học đầu tiên là Văn miếu năm 1070, thờ Khổng Tử và Chu Công, mở Quốc Tử giám năm 1076 và tổ chức các khoa thi để chọn người hiền tài, khoa thi đầu tiên được mở vào năm 1075. Nhờ đó nước Đại Việt trở nên hùng cường, phía Bắc đánh bại quân Tống, Đại Lý, phía Nam đánh bại Chiêm Thành.

Vua Lý Nhân Tông có lời thơ ca ngợi tài đức của sư Vạn Hạnh rằng:

Vạn Hạnh thông ba cõi
Thật hợp lời sấm xưa
Quê hương tên Cổ Pháp
Chống gậy trấn kinh vua.

Sư Vạn Hạnh có tài tiên tri, ông có nhiều lời sấm ký, trong đó nổi tiếng nhất là tiên đoán việc nhà Lý thay nhà Lê
Tượng sư Vạn Hạnh. (Ảnh qua tvsungphuc.net)

5. Trần Nhân Tông: Trẻ vinh quang, già viên mãn

Trần Nhân Tông là vị hoàng đế anh minh tài năng, hai lần đánh thắng quân Nguyên Mông (trong tổng số 3 lần đại thắng của nhà Trần). Ông còn là người tu hành đắc Đạo, là ông tổ của thiền phái Trúc Lâm của Việt Nam, hiện vẫn còn lưu truyền đến ngày nay. Trần Nhân Tông đạt được trình độ cao về các lĩnh vực như quân sự, âm nhạc, lịch số học và thiên văn học. Ông cũng tinh thông về tam giáo Phật-Lão-Nho và am hiểu tường tận giáo pháp nhà Phật.

Khi còn làm Thái tử, Trần Nhân Tông đã nhiều lần muốn nhường ngôi cho em trai nhưng không được vua cha chấp nhận. Có lần ông còn trốn lên Yên Tử, sau vua cha và hoàng hậu sai quân đi tìm và thỉnh cầu ông hồi kinh.

Khi đã lên ngôi vua, Trần Nhân Tông vẫn ăn chay trường, sống thanh tịnh theo tinh thần Phật giáo. Khi rảnh việc triều chính, ông thường tham thiền, bái thiền sư Tuệ Trung Thượng Sĩ làm thầy, và đạt được độ thâm sâu đến chỗ tinh túy của thiền.

Khi đã lên ngôi vua, Trần Nhân Tông vẫn ăn chay trường, sống thanh tịnh theo tinh thần Phật giáo.
Khi đã lên ngôi vua, Trần Nhân Tông vẫn ăn chay trường, sống thanh tịnh theo tinh thần Phật giáo. (Ảnh: Wikipedia-CC BY-SA 3.0)

Sau lần thua Đại Việt lần thứ nhất năm 1258, hoàng đế nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt đã sai con trai là Thoát Hoan, dẫn theo các tướng lĩnh lừng danh của Mông Cổ và của các nước sau khi đã bị nhà Nguyên chinh phục như Tây Hạ, Uzbeck… để phục thù. Nhà Nguyên dùng số quân lớn nhất trong các cuộc chiến là 50 vạn quân đánh xuống từ phía Bắc, đồng thời cử đội quân Toa Đô khoảng 20 vạn quân từ Chiêm Thành đánh lên từ phía Nam.

Trước thế mạnh và lực lượng “đông như quân Nguyên” này, rất nhiều vương tôn, quan tướng hoàng gia dao động, đề nghị xin hòa. Vua Trần Nhân Tông đã có tầm nhìn sắc bén, ngài nói: “Bọn giặc nhiều năm phải đi xa, lương thảo chuyên chở hàng vạn dặm, thế tất mỏi mệt. Lấy nhàn chống mệt, trước hết hãy làm chúng nhụt chí, thì ắt là đánh bại được chúng”. Cuối cùng quả đúng như vua dự liệu, quân Đại Việt đã làm nên chiến thắng: “Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm Tử bắt quân thù”.

Sau khi thua trận lần thứ 2, Hốt Tất Liệt lập tức chuẩn bị lực lượng đánh Đại Việt lần thứ 3. Quân Nguyên huy động tất cả quân tướng đã tham gia đánh Đại Việt lần 2 trước đó và bổ sung thêm nhiều viên mãnh tướng dày dạn kinh nghiệm, cùng 10 vạn quân người Mông Cổ thiện chiến, 9 vạn quân người dân tộc thiểu số Choang, chia làm 3 đường thủy bộ tấn công Đại Việt. Nhà Trần thực hiện kế sách vườn không nhà trống, rút lui khỏi Thăng Long. Sau đó mới dồn lực phản công, liên tiếp giành chiến thắng ở các trận Vạn Kiếp, Thăng Long, Vân Đồn, và cuối cùng là Chiến thắng Bạch Đằng bất hủ.

Nhà Trần thực hiện kế sách vườn không nhà trống, rút lui khỏi Thăng Long. Sau đó mới dồn lực phải công, liên tiếp giành chiến thắng ở các trận Vạn Kiếp, Thăng Long, Vân Đồn, và cuối cùng là Chiến thắng Bạch Đằng bất hủ.
Nhà Trần thực hiện kế sách vườn không nhà trống, rút lui khỏi Thăng Long. Sau đó mới dồn lực phải công, liên tiếp giành chiến thắng ở các trận Vạn Kiếp, Thăng Long, Vân Đồn, và cuối cùng là Chiến thắng Bạch Đằng bất hủ. (Ảnh: Wikipedia)

Trần Nhân Tông đã làm tròn chữ hiếu của kẻ làm con, làm trọn đạo nhân nghĩa của bậc quân vương, lấy sinh mệnh đền ơn tiên tổ, trọn trách nhiệm của bậc trượng phu với sơn hà xã tắc, trọn nghĩa vụ của bậc thiên tử chăm lo cuộc sống bách tính lê dân, an cư lạc nghiệp sau những năm chiến tranh tàn phá, trọn trách nhiệm của bậc làm cha, dạy dỗ chỉ bảo cho hoàng tử khôn lớn, đủ tài đức gánh vác non sông. Quả đúng là:

Lòng vui với Đạo muốn xa đời
Làm con chữ hiếu chẳng buông lơi
Xã tắc lâm nguy vai gánh vác
Trùng Hưng kỳ tích rạng muôn đời.

Năm 1299, Trần Nhân Tông rời khỏi danh lợi chốn hồng trần, lên Yên Tử tẩy sạch tâm trần, theo đuổi duyên lành hằng mong mỏi: xuất gia tu luyện, trở về với tâm nguyện xa xưa, vững bước trên con đường phản bổn quy chân, về miền tịnh thổ. Sau khi khổ tu, khai ngộ, đắc Đạo, ngài lại thuận theo cái duyên của bậc Giác Ngộ, giáo hóa văn minh cho bách tính lê dân, hoằng dương Phật Pháp khắp xa gần, trong và ngoài bờ cõi.

Năm 1299, Trần Nhân Tông rời khỏi danh lợi chốn hồng trần, lên Yên Tử tẩy sạch tâm trần, theo đuổi duyên lành hằng mong mỏi
Năm 1299, Trần Nhân Tông rời khỏi danh lợi chốn hồng trần, lên Yên Tử tẩy sạch tâm trần, theo đuổi duyên lành hằng mong mỏi. (Ảnh qua tvsungphuc.net)

“Có lúc ngài viễn du hóa độ cho các nước lân bang, phía nam đến tận Chiêm Thành, đã từng khất thực ở trong thành. Vua nước Chiêm Thành biết được điều đó, hết sức kính trọng thỉnh mời, dâng cúng trai lễ, sắp sẵn thuyền bè nghi trượng, thân hành tiễn ngài về nước…”

(Trần Quang Chỉ).

Cuộc đời đầy vinh quang khi tuổi trẻ và tìm được miền tịnh thổ lúc tuổi già, cuối cùng viên mãn đắc Đạo. Cả đời Trần Nhân Tông gói gọn trong hai chữ “tùy duyên”, được miêu tả qua bài kệ “Cư trần lạc Đạo” của ngài rằng:

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền
Có báu trong nhà thôi tìm kiếm
Vô tâm đối cảnh hỏi chi thiền.

(Còn nữa)…

Trung Hòa

Với 22 ngôn ngữ, Epoch Times là một kênh truyền thông Mỹ độc lập theo nguyên tắc Sự Thật và Truyền Thống. Thông qua những bài báo trung thực, cung cấp sự thật và làm sáng tỏ những vấn đề xã hội quan trọng, Epoch Times mong muốn gửi đến Quý độc giả những giá trị nhân văn của sự chính trực, lương thiện, lòng trắc ẩn, hay những bài học quý giá từ lịch sử, đồng thời tôn vinh các giá trị phổ quát của nhân loại.

Rất mong nhận được sự ủng hộ và đồng hành của Quý độc giả thông qua việc chia sẻ, lan tỏa các bài viết đến với cộng đồng. Epoch Times tin rằng đây là cách để chúng ta cùng kiến tạo tương lai, đi tới một đại kỷ nguyên mới huy hoàng và đẹp đẽ hơn.


Mọi ý kiến và đóng góp bài vở, xin vui lòng gửi về: [email protected]