Sự thâm nhập của chế độ độc tài chuyên chế cộng sản vào Hoa Kỳ đã tạo ra một khái niệm “đúng đắn chính trị” mang hàm nghĩa phụ diện. 

Trong 20 năm qua, “đúng đắn chính trị” trở thành một cụm từ chính diện, đại biểu cho những yêu cầu lợi ích ngày càng công khai. Hiến pháp Hoa Kỳ chưa bao giờ trao cho bất kỳ đảng phái chính trị hoặc bất kỳ nhóm xã hội nào quyền được xác định quan điểm nào là “đúng đắn chính trị”. Nếu một bộ phận nào đó của xã hội Mỹ tự trao quyền lực như vậy cho mình, đó không phải là “sự tiến bộ” của chế độ dân chủ, mà là cấy ghép sự độc tài về tư tưởng, rất giống với các bước đi cải tạo tư tưởng của chế độ Cộng sản. 

Một khi sự độc tài tư tưởng về “đúng đắn chính trị” được xã hội âm thầm chấp nhận, thế hệ trẻ sẽ không thể không bị “tẩy não” bởi một hình thái ý thức duy nhất trong trường học, một quốc gia dân chủ sẽ mất tự do tư tưởng, và hệ thống dân chủ này có thể sẽ rơi vào sự độc tài chính trị của một nhóm người nào đó.

Quá khứ và hiện tại của “đúng đắn chính trị”

Ở Hoa Kỳ ngày nay, từ khuôn viên trường học cho đến giới chính trị, “đúng đắn chính trị” nghiễm nhiên lấy bộ mặt pháp luật cất lên tiếng nói và chi phối mọi thứ. Nhiều người không hiểu nguồn gốc của khẩu hiệu hoặc ý nghĩa ban đầu của nó là gì. Trên thực tế, danh từ này đến từ sự xâm nhập của chế độ độc tài Đảng Cộng sản Liên Xô (ĐCSLX) và Trung Cộng vào Hoa Kỳ.

Vào ngày 20 tháng 10 năm 2008, hai nhà sử học người Mỹ Maurice Isserman và Ellen Schrecker có một bài diễn giảng  về “Lịch sử phát triển của cánh tả Mỹ trong thế kỷ 20” tại khoa lịch sử Đại học Bắc Kinh. Theo ông Isserman, dưới ảnh hưởng của Cách mạng Nga năm 1919, Đảng Cộng sản Mỹ được thành lập và công khai tuyên bố, mục tiêu của họ là thành lập một nước Mỹ Xô Viết; Đảng Cộng sản Mỹ đã đạt được sự phát triển vượt bậc trong những năm 1930 và 1940, và có quan hệ mật thiết với cuộc vận động của chủ nghĩa cộng sản quốc tế, chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Sau Chiến tranh thế giới thứ II, đảng Cộng sản Mỹ dần dần sụp đổ. Vào những năm 1960 và 1970, một “cánh tả mới” với sinh viên là chủ thể chính đã bước lên vũ đài lịch sử, lấy Trung Quốc và Cuba làm hình mẫu để theo đuổi.

Sự xâm nhập của chế độ chuyên chế cộng sản vào Hoa Kỳ đã làm nảy sinh khái niệm “đúng đắn chính trị”. Theo Wikipedia, vào những năm 1930, đây là lời mỉa mai của những người theo chủ nghĩa xã hội ôn hòa đối với những người cộng sản Hoa Kỳ tuân theo mệnh lệnh của Matxcơva, nghĩa là họ chỉ một mực cổ xúy và bảo vệ phương châm chính sách của Đảng Cộng sản Liên Xô. Đảng cộng sản Hoa Kỳ phải tuân thủ đường lối và khẩu hiệu “đúng đắn chính trị” do Matxcơva quy định vì nó là con rối cầm đồng rúp của đảng cộng sản Liên Xô. 

Năm 1987, Xô cộng bắt đầu nới lỏng chính trị của mình, Đảng Cộng sản Hoa Kỳ vẫn dựa vào khoản trợ cấp hàng năm của họ là 3 triệu đô-la Mỹ. Trong những năm 1960 và 1970 khi Trung Cộng xuất khẩu cách mạng, những người cánh tả mới ở Hoa Kỳ thích “Sách đỏ” (Mao ngữ lục) của Mao Trạch Đông thường châm biếm các đảng viên Đảng Cộng sản Hoa Kỳ theo giọng điệu chống Liên Xô, chống người theo chủ nghĩa xét lại của Trung Cộng. Ví dụ, những Mỹ sùng bái Mao Trạch Đông sẽ bắt chước giọng điệu của “Hồng vệ binh” và nói với các thành viên của Đảng Cộng sản Mỹ: “Đồng chí, bạn chưa có đúng đắn về mặt chính trị đâu nhé”.

Sau khi thời đại Reagan kết thúc, bắt đầu từ những năm 90, “đúng đắn chính trị” được phục sinh trên các bục giảng và khuôn viên trường đại học, nhưng thiếu đi hơi thở của đồng Rúp và dư âm của Mao ngữ lục. Nhớ lại trong lớp tôi học tại đại học Princeton lúc bấy giờ, giáo sư người Mỹ gốc Phi dạy các môn lý luận kinh điển đã liệt kê “Tuyên ngôn đảng cộng sản” vào danh sách giáo trình phải đọc. Tôi viết một bài bút ký [tóm tắt việc] đọc sách, phủ định hoàn toàn tuyên ngôn này, vị giáo sư không có bất cứ sự phản đối nào. Vào thời điểm đó, từ “đúng đắn chính trị” rất ít xuất hiện, hoặc là có thể nổi lên ở một số buổi diễn giảng nào đó, nhưng lúc đó dùng cụm từ này vẫn ít nhiều bao hàm ý tứ hàm nghĩa châm biếm cánh tả. Có học giả nhìn nhận, “đúng đắn chính trị” là một loại “Chủ nghĩa Mác về văn hóa”, tiêu chí của nó là không khoan dung đối với các giá trị quan khác. 

Tuy nhiên, khi đội ngũ giáo viên trên bục giảng ở các trường đại học Mỹ ngày càng tả khuynh, trong 20 năm qua, cụm từ này đã mang hàm nghĩa diễn tả chính diện, nghĩa là, khẩu hiệu và lý niệm “chủ nghĩa tiến bộ” của phe cánh tả đương nhiên “đúng đắn” về chính trị. Nó ngày càng trở nên phổ biến hơn trong trường học, các phương triện truyền thông và xã hội, hàm nghĩa tiêu cực ban đầu của nó đã hoàn toàn biến mất, các nhu cầu khác nhau mà nó đại biểu hiện đang ngày càng trở nên công khai. Gần đây, nhiều khẩu hiệu dưới danh nghĩa “đúng đắn chính trị” đã có thêm “Đả đảo ông Trump”, cho nên nhiều người ủng hộ ông Trump đã không còn biểu đạt quan điểm của bản thân trong các cuộc điều tra dân ý hoặc trong môi trường cộng đồng để tránh áp lực về “đúng đắn chính trị”.

“Đúng đắn chính trị” trở thành tư tưởng độc tài chuyên chế

Trong xã hội Mỹ đương đại, “đúng đắn chính trị” ban đầu chỉ là một loại nhãn mác, giống như từ quảng cáo “sản phẩm tốt nhất”, là một loại bao bì hoặc quảng cáo cho việc mở rộng các chủ trương, chính sách mà nó quảng bá. Chất lượng tốt xấu của bất kỳ sản phẩm nào then chốt ở nội dung của nó, không phải đơn thuần do bao bì hay quảng cáo quyết định. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, “đúng đắn chính trị” dường như đang trở thành một công cụ chính trị, một số người cố gắng sử dụng nhãn mác để che đậy nội dung. Có vẻ như miễn là khẩu hiệu hoặc chủ trương chính sách được đưa ra dưới ngọn cờ “chủ nghĩa tiến bộ”, thì đều không được phép chất vấn, không cho phép có bất đồng ý kiến, không cho phép người khác bảo lưu quan điểm của họ, nếu không họ sẽ sử dụng “cây gậy” “không đúng đắn chính trị” để tấn công những người không đồng ý với khẩu hiệu của “chủ nghĩa tiến bộ”.

Những người Mỹ chưa từng trải qua chế độ độc tài chuyên chế đỏ, sẽ không thể thể nghiệm được cái gì gọi là đảng cộng sản và hình thái ý thức của xã hội chuyên chế. Đối với người Trung Quốc, suốt từ năm 1949 đến nay, họ luôn sống dưới chế độ độc tài đỏ, những người Trung Quốc dám suy nghĩ độc lập ấy nhận thức rõ bản chất của chế độ độc tài về tư tưởng hơn những người phương Tây luôn giơ cao khẩu hiệu “đúng đắn chính trị”, vì họ chính nạn nhân của chế độ độc tài về tư tưởng. Đặc điểm về độc tài tư tưởng của chế độ đỏ là một số người thông qua quyền lực chính trị và quyền lực xã hội khác (ví dụ quyền quy định thành tích trong trường học) mà nắm giữ quyền phát biểu, quy định quan điểm của bản thân mình là “đúng đắn chính trị”, không cho phép ai được chất vấn, cũng không cho phép người khác bảo lưu quan điểm của mình. Đối với những thành viên xã hội dám kháng cự “đúng đắn chính trị”, những người nắm giữ quyền phát ngôn ấy sẽ dùng sức ép kinh tế hoặc xã hội để ép buộc các thành viên xã hội phản bác “đúng đắn chính trị” phải phục tùng, tức là khiến cho những người không phục tùng về mặt giá trị quan khó mà sinh tồn, cuối cùng nhiều người chỉ có thể bị buộc trở thành kẻ hai mặt và nói dối nơi công cộng. Chỉ khi ở nơi riêng tư, mới có thể nói sự thật với người mà họ tin tưởng.  

Ngày 2 tháng 8 năm 2016, Thời báo New York đăng tải một bài viết của sinh viên tên Đổng Nhất Phu ở Đại học Yale, trong đó có đoạn, “Trong các trường học Mỹ, đúng đắn chính trị không phải là pháp luật, nhưng phạm vi “quản lý” của nó lại thường vượt qua và cao hơn pháp luật. Quyền tự do ngôn luận tất nhiên được bảo vệ bởi Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp Hoa kỳ, nhưng trong bối cảnh xã hội nước này ngày càng đa nguyên hóa, khi một người thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình, thì sự hạn chế mà họ gặp phải, thường không phải đến từ những dự luật và pháp luật về quyền bình đẳng trong lịch sử nước Mỹ, mà đến từ nguyên tắc đúng đắn chính trị”. 

Hiến pháp Hoa Kỳ bảo vệ quyền tự do ngôn luận, càng bảo vệ quyền tự do tư tưởng. Đây là lý do tại sao Đảng Cộng sản Hoa Kỳ có thể trộn lẫn cho đến ngày nay, đó cũng là lý do tại sao “Sách đỏ” của Mao Trạch Đông được truyền đọc ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Hiến pháp Hoa Kỳ chưa bao giờ trao cho bất kỳ đảng chính trị hay bất kỳ nhóm xã hội nào quyền xác định quan điểm thế nào là “đúng đắn chính trị”. Nếu một bộ phận người nào đó của xã hội Mỹ tự trao cho mình quyền lực như vậy, đó không phải là sự “Tiến bộ” của chế độ dân chủ, mà là sự cấy ghép ý thức hệ chuyên chế.

Gen độc tài chủ nghĩa Mác của “đúng đắn chính trị”

Trong những năm qua, ngày càng nhiều người cảm nhận được sự tả khuynh nền giáo dục Mỹ. Trong vòng tròn giáo dục, không chỉ giáo viên tân tiến phải bảo trì “đúng đắn chính trị”, mà những giáo viên bảo lưu thái độ của mình không tiếp nhận “đúng đắn chính trị” đều sẽ bị xa lánh, có một bức “trần nhà bằng kính” về “đúng đắn chính trị” đối với việc công bố luận văn, đề bạt giáo viên. Ngay cả trong các cuộc bầu cử tổng thống, những giáo viên không ủng hộ “đúng đắn chính trị” đều cẩn thận ngậm miệng để không bị đồng nghiệp chỉ trích. Hiện tượng này cho thấy, “đúng đắn chính trị” đang được nâng cấp từ độc tài tư tưởng thành độc tài xã hội. 

Chính từ hiện tượng này, người ta có thể phát hiện gen chủ nghĩa Mác của “đúng đắn chính trị”, đó chính là sự đàn áp tàn nhẫn những người giữ quan điểm bất đồng chính kiến đối với “đúng đắn chính trị” ở các nước dân chủ. Phái “đúng đắn chính trị” thường dùng sự quan tâm nhân quyền, đặc biệt nhân quyền của các quốc gia có đảng cộng sản để ngụy trang cho mình, coi việc làm nổi bật sự bất mãn của mình đối với độc tài đỏ là biểu hiện của “tiến bộ”. Tuy nhiên, họ có thực sự ghét sự độc tài về tư tưởng không? Tất cả các quốc gia có đảng cộng sản nắm quyền đều coi chủ nghĩa Mác là quốc giáo, có nước nào không là xã hội chuyên chế? Sở dĩ chính quyền đỏ chuyên chế, vì nó biết rõ hình thái ý thức cướp đoạt nhân quyền và áp bức chính trị là trái với bản chất nhân loại, chắc chắn sẽ bị dân chúng phản đối, không còn cách tồn tại nào khác ngoài việc kiên quyết thực hiện chế độ độc tài. Đây cũng là lý do của hình thái ý thức đằng sau chiến tranh lạnh Trung-Mỹ. 

Tuy nhiên, phái “đúng đắn chính trị” chỉ trích vấn đề nhân quyền của chế độ đỏ, luôn ở mức dừng lại ở tầng diện tư tưởng nhân quyền, nhưng xưa nay không muốn động đến gen chuyên chế Mác-xít của chế độ chuyên chế. Nếu không chỉ trích gen độc tài chứa đựng trong hình thái ý thức Mác-xít thì không thể khai quật căn nguyên của chủ nghĩa độc tài dưới chế độ đỏ. Phe “đúng đắn chính trị” luôn luôn có rất nhiều sự khoan dung đối với các phiên bản cũ và mới của chủ nghĩa Mác, lý do là họ thực sự ngưỡng mộ gen chuyên chế của chủ nghĩa Mác; và họ sẽ thực hành chúng trong chừng mực có thể.

Từ ý nghĩa này mà giảng, “đúng đắn chính trị” đang dần biến đổi thành công cụ chính trị của chế độ độc tài tư tưởng và khống chế xã hội, các đặc trưng hai mặt của phe này cũng được phơi bày hoàn toàn. Một mặt, họ tỏ ra quan tâm về nhân quyền ở các quốc gia có đảng cộng sản; mặt khác họ có lập trường không khoan nhượng đối với những người bảo lưu thái độ của mình trước “đúng đắn chính trị”, vừa vặn giống hệt với các chính quyền đỏ đối đãi với những nhân sĩ bất đồng ý kiến. Một mặt phái này dường như tỏ ra vô cùng bất mãn với sự chuyên chế của các quốc gia cộng sản; mặt khác, lại chăm sóc cẩn thận cho cái gen chuyên chế mác-xít của các chính quyền đảng cộng sản. 

Chính vì vậy, mặc dù phái cánh tả phương Tây chỉ trích chế độ chuyên chế Cộng sản, nhưng họ chưa bao giờ nỡ triệt để phủ định chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa do đảng cộng sản thiết lập theo giáo điều của chủ nghĩa Mác; họ lại càng không muốn đào sâu và moi lên nguồn gốc hình thái ý thức chủ nghĩa Mác của chế độ đảng cộng sản như các nhân sĩ bất đồng chính kiến dưới chế độ này. Về phương diện này, “đúng đắn chính trị” phát huy vai trò như một tấm khăn che mặt, để cách làm của những người không phủ định hình thái ý thức của chủ nghĩa cộng sản có được “chính danh”, lý do là họ phê phán tình trạng nhân quyền dưới chế độ chuyên quyền đỏ, nên trở thành “đúng đắn chính trị”. Có thể nói, phe cánh tả phương tây muốn tiếp tục ôm giữ các loại bản cũ mới khác nhau của chủ nghĩa Mác, nhưng lại sợ bị cho là kẻ theo đuổi chế độ độc tài đảng cộng sản, nên dùng cái gọi là “đúng đắn chính trị” để tự biện bạch cho mình. Sự phê phán của họ đối với chế độ này là hư tình giả ý, nửa thật nửa giả, chỉ nói một cách trừu tượng chế độ chuyên chế là không tốt, muốn bảo vệ nhân quyền, nhưng từ chối phủ định triệt để hình thái ý thức chủ nghĩa Mác của chính quyền đỏ cũng như cái gen chuyên chế của nó.

Phái “đúng đắn chính trị” đối địch với ai?

Phái “đúng đắn chính trị” thù địch với các giá trị quan truyền thống của Mỹ, cũng chỉ trích chính quyền cộng sản vốn có cùng nguồn gốc tinh thần với nó, nhưng thực ra nó thuộc về không đúng đắn chính trị trong khuôn khổ chính trị dân chủ.

Các giá trị quan truyền thống của xã hội Mỹ đơn giản là quan tâm kiên trì vào khái niệm dân có, dân trị, dân hưởng trong hệ thống chính trị, đồng thời không dựa vào phúc lợi do chính phủ cung cấp trong hệ thống kinh tế và xã hội. [Chính phủ ] lý trí nói với những người nắm giữ các giá trị truyền thống rằng, tài chính của một quốc gia dân chủ không phải là một “cái hang vàng” có nguồn vô hạn, mà là những người đóng thuế làm việc vất vả dùng tiền thuế để bồi đắp nên; nếu vì nhu cầu cá nhân mà đục khoét quá mức ngân khố, thì sẽ có thể hủy hoại quốc gia này, cũng hủy hoại ý chí muốn cố gắng của cá nhân. Vì vậy trên thân của những người Mỹ kiên trì những giá trị quan này, có thể nhìn thấy một loại “Tự tôn có tính khiêm nhường”. Khiêm tốn nghĩa là, họ chỉ yêu cầu có cơ hội làm việc chăm chỉ để nuôi sống bản thân; còn tự tôn, là họ không muốn dựa vào phúc lợi chính phủ, nhưng hy vọng chính phủ sử dụng thận trọng nguồn tư nguyên có hạn do người đóng thuế đóng góp. 

Phái “đúng đắn chính trị” gọi những người giữ các giá trị truyền thống của Mỹ là “chủ nghĩa bảo thủ” về hình thái ý thức. Cách nói này đã trở thành một quy ước tự nhiên trên các phương tiện truyền thông và các cuộc điều tra dân ý. Trên thực tế, những người Mỹ theo đuổi các giá trị truyền thống không có khuynh hướng hình thái ý thức mạnh mẽ, “chủ nghĩa bảo thủ” không phải là một hình thái ý thức về ý nghĩa thực sự; ngược lại, có một hệ tư tưởng ẩn tàng đằng sau “đúng đắn chính trị”, tức là chủ nghĩa Mác và các biến thể hiện đại của nó, vốn có liên quan mật thiết với diện mạo nguyên sơ của “đúng đắn chính trị”.

Nguồn gốc tinh thần của các giá trị quan cánh tả Mỹ được du nhập từ châu Âu, tức là trào lưu tư tưởng hậu hiện đại và chủ nghĩa Mác mới đã nắm vị trí chủ đạo ở châu Âu sau chiến tranh. Ví dụ, chủ nghĩa hậu hiện đại ra đời ở Pháp và Trường phái Frankfurt ở Đức có ảnh hưởng mang tính chi phối toàn bộ châu Âu, chủ nghĩa tương đối văn hóa và chủ nghĩa tương đối giá trị là sản phẩm của các lý thuyết hậu hiện đại. Nền tảng đạo đức của thuyết tương đối văn hóa là thuyết tương đối về giá trị, mà thực chất của thuyết tương đối về giá trị là thuyết hư vô về đạo đức. 

Nhiều vấn đề mà châu Âu đang phải đối mặt ngày nay có thể được coi là hậu quả của bệnh ấu trĩ tả khuynh và cảm giác ưu việt tả khuynh. Bệnh ấu trĩ tả khuynh là chỉ tư duy về xã hội không tưởng (utopia) chiếm thượng phong, cảm giác ưu việt tả khuynh là coi tư duy tả khuynh là mốt thời thượng. Nhiều phần tử trí thức và các phương tiện truyền thông hứng thú với việc phê phán văn minh châu Âu, đồng thời tiếp nhận các hình thái ý thức khác một cách không chọn lọc, không kể đúng sai, không phân tốt xấu. Nhiều người châu Âu không thích nước Mỹ vì các giá trị truyền thống vẫn còn rất mạnh mẽ trong nhân dân Mỹ không ăn nhập chút nào với các giá trị của cánh tả châu Âu.

Từ những năm 80, các khóa học về khoa học xã hội trong các trường đại học Mỹ thường giới thiệu lượng lớn các trường phái “thời thượng” có bối cảnh là chủ nghĩa Mác-xít mới đến từ châu Âu. Phần lớn tinh anh văn hóa Mỹ tiếp thu và truyền bá giá trị quan cánh tả, đội lên mình vòng nguyệt quế “Phái tự do”, về quan niệm chính trị thì chú ý tới nhân quyền, các nhóm yếu thế, trong chế độ kinh tế xã hội ủng hộ chính phủ lớn, nhiều phúc lợi. Trong những người được cho là tinh anh văn hóa ở phái cánh tả này, có nhiều người yêu thích chủ nghĩa Mác, thậm chí không ít người còn là kẻ sùng tín Mao Trạch Đông vào những năm 60 – 70. Họ có thể mang thái độ phê bình với mô hình của Stalin, vì dù sao mô hình này cũng vì bức hại chính trị quy mô lớn của Liên Xô mà mang tiếng xấu; tuy nhiên, lại giả câm giả điếc đối với cuộc đàn áp chính trị quy mô lớn của Mao Trạch Đông và hàng chục triệu người chết đói dưới ngọn cờ cộng sản của “công xã”. Họ càng không muốn thảo luận về bước đường cùng chủ nghĩa Mác trong thực tiễn chính trị của các nước độc tài đỏ.  

Trong chế độ tự do dân chủ, nếu thích chủ nghĩa Mác là thuộc về tự do tư tưởng, vậy thì phê phán chân lý duy nhất của chủ nghĩa Mác, giá trị quan cao nhất và bản chất của độc tài tư tưởng thì cũng thuộc về tự do tư tưởng; nếu khăng khăng cho rằng “đúng đắn chính trị” là tự do chính trị, thì phê phán “đúng đắn chính trị” cũng nên thuộc về một phần khác của tự do chính trị. Khi “phái tự do” sử dụng “đúng đắn chính trị” để làm xói mòn quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận, thì hệ thống dân chủ của Mỹ thực sự bị đe dọa. Một khi chế độ độc tài về tư tưởng “đúng đắn chính trị” được xã hội lặng lẽ chấp nhận, thế hệ trẻ sẽ không thể không bị “tẩy não” bởi một hình thái ý thức duy nhất trong trường học, một quốc gia dân chủ sẽ mất tự do tư tưởng, và hệ thống dân chủ này có thể sẽ rơi vào sự chuyên chế chính trị của một nhóm người nào đó.

Nhiều người Mỹ chỉ cảm thấy theo bản năng rằng con đường này là sai, nhưng không thể nói rõ hướng đi đằng sau nó là gì. Đối với những nhân sĩ bất đồng chính kiến đến ​​từ các nước cộng sản, đó chẳng phải là bộ cải tạo tư tưởng của chính quyền cộng sản hay sao? Điều cốt yếu của chủ nghĩa Mác chính là đưa quan điểm của một nhóm người làm thành chân lý cuối cùng toàn cầu và xu hướng chung của nhân loại, ý đồ kéo tất cả những người khác hoàn toàn vào tầm kiểm soát của mình. Nhìn nhận từ góc độ này, khẩu hiệu “đúng đắn chính trị” vốn là chống lại tư tưởng tự do. Dưới một chế độ dân chủ, khẩu hiệu này có thể nói không có tính chính xác; thực chất của chủ nghĩa “tiến bộ” là hủy bỏ tự do tư tưởng, vì vậy nó không phải là “tiến bộ”, trên thực tế là đi ngược lại chế độ tự do dân chủ, là con đường nguy hiểm tuột dốc từ dân chủ hướng về chuyên chế, vì vậy nó là một loại chủ nghĩa thụt lùi. 

Trung Cộng có quan hệ “họ hàng” với trào lưu của phe cánh tả ở các nước phương Tây, họ đều là hậu duệ của chủ nghĩa Mác, nhưng vì hai lý do mà hai bên không cách nào thực sự hợp tác. Bởi vì chủ nghĩa Mác-xít mới mà những người cánh tả phương Tây hiện nay đang làm theo, để phân rõ ranh giới với chính quyền cộng sản, và mua chuộc lòng người, không thể không phê phán tình trạng nhân quyền của chính quyền đỏ. Xuất phát từ vấn đề giống nhau về hình thái ý thức, chính đảng của phe cánh tả còn sợ vác cái ‘nồi’ “giúp đỡ chính quyền độc tài” hơn cả chính đảng cánh hữu. Về mặt chính sách đối với Trung Quốc, các chính đảng cánh tả phương Tây thường sẽ hết sức nhấn mạnh mối quan tâm của họ với nhân quyền, mà lập trường này làm nó không thể “kề vai sát cánh” với Trung Cộng. 

Tác giả: Chu Dĩnh

Biên dịch: Thanh Mai

Với 22 ngôn ngữ, Epoch Times là một kênh truyền thông Mỹ độc lập theo nguyên tắc Sự Thật và Truyền Thống. Thông qua những bài báo trung thực, cung cấp sự thật và làm sáng tỏ những vấn đề xã hội quan trọng, Epoch Times mong muốn gửi đến Quý độc giả những giá trị nhân văn của sự chính trực, lương thiện, lòng trắc ẩn, hay những bài học quý giá từ lịch sử, đồng thời tôn vinh các giá trị phổ quát của nhân loại.

Rất mong nhận được sự ủng hộ và đồng hành của Quý độc giả thông qua việc chia sẻ, lan tỏa các bài viết đến với cộng đồng. Epoch Times tin rằng đây là cách để chúng ta cùng kiến tạo tương lai, đi tới một đại kỷ nguyên mới huy hoàng và đẹp đẽ hơn.


Mọi ý kiến và đóng góp bài vở, xin vui lòng gửi về: [email protected]