Cách các quan chức hàng đầu Hoa Kỳ đóng vai trò mấu chốt trong việc gây bất ổn tại Ukraine và gây tổn hại đến mối bang giao Hoa Kỳ-Nga.

Khi chiến tranh bùng phát ở Ukraine sau cuộc xâm lược của Nga, rất khó để đánh giá những tình huống thực tế tại hiện trường – người ta ước tính rằng hàng ngàn người đã thiệt mạng, trong đó có đến hàng trăm thường dân và gần một triệu người buộc phải rời bỏ nhà của họ để đi lánh nạn.

Mặc dù đúng là Tổng thống Nga Vladimir Putin đáng bị lên án, nhưng trong một thập niên qua các quan chức hàng đầu của Hoa Kỳ cũng đóng những vai trò mấu chốt trong các sự kiện trọng đại làm suy yếu mối bang giao của Hoa Kỳ với Nga, cũng như dẫn đến sự bất ổn tại Ukraine.

Tổng thống Hoa Kỳ đương thời George W. Bush trình bày trong Hội nghị thượng đỉnh NATO ở Bucharest, Romania, hôm 02/04/2008. (Ảnh: Mandel Ngan/AFP/Getty Images)

Tình hình ngày càng xấu đi trong mối bang giao giữa Hoa Kỳ và Nga, và việc này theo nhiều cách đã khởi đầu từ Tổng thống George W. Bush vào năm 2008 khi ông manh nha hứa hẹn trong một tuyên bố tại thành phố Bucharest rằng Ukraine sẽ trở thành một thành viên của NATO, bằng việc mạnh dạn khẳng định: “Hôm nay chúng ta đồng ý rằng các quốc gia này sẽ trở thành những thành viên của NATO.”

Lời hứa về việc Ukraine gia nhập NATO là điều mà Nga chưa bao giờ xem nhẹ, quốc gia này vẫn kiên quyết phản đối bất kỳ sự mở rộng nào của NATO dọc theo biên giới của mình.

Năm 1990, Ngoại trưởng Hoa Kỳ James Baker và Ngoại trưởng Đức Hans-Dietrich Genscher đã hứa với Điện Kremlin rằng sẽ không mở rộng NATO về phía đông, để đổi lấy sự hợp nhất của nước Đức. Tuy nhiên, trong các thập niên kể từ sau lời hứa này, NATO đã tiếp nhận thêm 14 quốc gia Đông Âu.

Trong cuốn hồi ký năm 2020 của mình, Giám đốc CIA đương nhiệm của Tổng thống Joe Biden, ông Bill Burns, đã cảnh báo rất rõ ràng về những nguy cơ diễn ra bởi việc Ukraine trở thành thành viên của NATO, viện dẫn chính lời nói của ông hồi năm 2008 với Ngoại trưởng đương thời là bà Condoleeza Rice: “Việc Ukraine gia nhập NATO là điều cấm kỵ nhất trong mọi lằn ranh đỏ đối với giới tinh hoa Nga (không chỉ riêng ông Putin).”

Ông viết: “Trong hơn hai năm rưỡi trao đổi với những người cốt cán của nước Nga, từ những kẻ vô tri trong các ngóc ngách đen tối của Điện Kremlin cho đến những nhà phê bình thiên tả sắc bén nhất của Tổng thống Putin, tôi chưa từng thấy bất kỳ người nào xem việc Ukraine gia nhập NATO là bất cứ thứ gì khác ngoài việc là một thách thức ảnh hưởng trực tiếp đến các lợi ích của Nga.”

Tình hình chính trị Ukraine rối ren trong thời gian dài

Ngoài tầm quan trọng về mặt địa lý như là một vùng đệm giữa phương Đông và phương Tây trong hàng thế kỷ, Ukraine còn là một quốc gia giàu tài nguyên với lượng nông sản xuất cảng dồi dào và là nguồn cung lớn về khoáng sản, quặng sắt, và than đá.

Tuy nhiên, dù sở hữu các lợi thế kể trên, thì những biến động về mặt chính trị của Ukraine cũng như ảnh hưởng từ các nhà tài phiệt quyền lực đồng nghĩa với việc nước này cũng là một trong những quốc gia nghèo nhất Âu Châu. GDP bình quân đầu người trên danh nghĩa của Ukraine chỉ ở mức khoảng 3,500 USD so với mức bình quân của Âu Châu là 31,000 USD. Vấn nạn tham nhũng tràn lan trong chính phủ chỉ làm cho tình hình khó khăn trở nên tệ hơn.

Ukraine đã trải qua hai cuộc cách mạng quan trọng kể từ khi giành được độc lập vào năm 1991. Cuộc cách mạng đầu tiên diễn ra vào năm 2004 khi một người rõ ràng đã giành chiến thắng trong một cuộc bầu cử tổng thống, ông Viktor Yanukovych, một ứng cử viên được Nga ủng hộ, đã bị bãi bỏ. Ông Yanukovych đã trở lại chính trường vào năm 2010 khi ông lại giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống.

Tuy nhiên, ông Yanukovych lại bị truất quyền vào tháng 02/2014, khi một cuộc đảo chính do Hoa Kỳ ủng hộ đã thành lập một chính phủ mới ở Ukraine. Ông Arseniy Yatsenyuk, một ứng cử viên được Hoa Kỳ hậu thuẫn, đã được bổ nhiệm để trở thành thủ tướng Ukraine, nhưng đã từ chức hai năm sau đó do bị cáo buộc tham nhũng.

Biểu tình chống chính phủ ở Kyiv, Ukraine, hôm 20/02/2014. (Ảnh: Jeff J Mitchell/Getty Images)

Cách mạng Maidan năm 2014 đã được khắc họa như một chiến thắng của nền dân chủ trước sự áp bức, nhưng sự mô tả này đã phớt lờ một điều rằng đỉnh điểm của Cách mạng Maidan là cuộc đảo chính dẫn đến việc bãi nhiệm một nhà lãnh đạo được bầu cử một cách dân chủ của Ukraine.

Việc Ukraine trở thành tâm điểm của một cuộc chiến tranh lạnh mới với Nga đã khiến nhiều quan chức Hoa Kỳ cố tình phớt lờ một sự trỗi dậy nguy hiểm của tinh thần phát xít và phong trào Tân Quốc Xã bên trong quốc gia này.

Ông Andriy Parubiy, người đồng sáng lập Đảng Quốc Gia-Xã Hội Ukraine (SNPU) thiên hướng phát xít, gần đây đã giữ chức chủ tịch nghị viện Ukraine từ tháng 04/2016 đến tháng 08/2019. Hệ tư tưởng của đảng SNPU của ông Parubiy — mà ông là người đồng sáng lập vào năm 1991 cùng với ông Oleh Tyahnybok, người hiện là lãnh đạo đương nhiệm của đảng Svoboda theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan — là một hệ tư tưởng theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan và chủ nghĩa phát xít mới.

Ông Parubiy là “chỉ huy” của Cách mạng Maidan, lãnh đạo nhiều đơn vị bán quân sự khác của Maidan, và lực lượng của ông ấy đóng một vai trò trọng yếu trong cuộc đảo chính do Hoa Kỳ hậu thuẫn dẫn đến việc lật đổ ông Yanukovych.

Sự lớn mạnh của phong trào phát xít tại một quốc gia đang đóng vai trò là chiến trường cho một cuộc chiến tranh lạnh mới giữa Hoa Kỳ và Nga, lẽ ra phải gióng lên nhiều hồi chuông báo động. Nhưng thay vì tránh xa những yếu tố này, thì dường như các nhà lãnh đạo phương Tây đã đón nhận chúng.

Thật vậy, Thượng nghị sĩ John McCain đã gặp gỡ nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan Tyahnybok trước cuộc đảo chính năm 2014, và Tổng thống Joe Biden, lúc bấy giờ giữ chức phó tổng thống Hoa Kỳ, đã gặp ông Tyahnybok ngay sau đó vào tháng 04/2014. Và vào tháng 06/2017, ông Parubiy đã được mời đến Hoa Thịnh Đốn, nơi ông gặp gỡ một số chính trị gia Hoa Kỳ, gồm cả ông McCain và Chủ tịch Hạ viện Paul Ryan.

Phó Tổng thống Biden trở thành nhân vật quan trọng với Ukraine

Trong các sự kiện xảy ra xung quanh cuộc đảo chính hồi tháng 02/2014, ông Biden, khi đó đang là phó tổng thống của Tổng thống Barack Obama, đã xuất hiện lần đầu tiên với tư cách là người hòa giải đầy quyền lực của Ukraine. Ông Biden đã được bổ nhiệm để trở thành nhân vật quan trọng trong chính phủ Tổng thống Obama về vấn đề Ukraine hồi đầu năm 2014.

Một cuộc điện đàm bị gián đoạn giữa thứ trưởng đặc trách các vấn đề Âu Châu cũng như các vấn đề Á-Âu trong bộ ngoại giao của Tổng thống Obama khi đó là bà Victoria Nuland, và Đại sứ Hoa Kỳ tại Ukraine đương thời là ông Geoffrey Pyatt, tiết lộ rằng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đang tích cực theo đuổi việc lật đổ ông Yanukovych và bổ nhiệm lãnh đạo đối lập Yatsenyuk lên làm thủ tướng. Không thể biết chính xác là cuộc thảo luận của họ diễn ra khi nào, chỉ biết rằng cuộc thảo luận này diễn ra trước ngày 07/02/2014, khi đoạn đối thoại bị tiết lộ ra bên ngoài.

Trong cuộc thảo luận bị rò rỉ này, bà Nuland lưu ý rằng ông Jake Sullivan, cố vấn an ninh quốc gia đương thời của Phó Tổng thống Biden, đã thông báo với bà rằng “bà cần ông Biden” để thành công trong việc đưa ông Yatsenyuk lên nắm quyền, và bà Nuland kết luận bằng việc nói với ông Pyatt rằng “ông Biden luôn sẵn lòng.” Ông Sullivan hiện cũng là cố vấn an ninh quốc gia cho Tổng thống Biden.

Chỉ hai tuần sau đó, tức hôm 22/02/2014, ông Yanukovych đã bị truất phế khỏi vị trí tổng thống Ukraine, và chỉ ba ngày sau đó, ông Yatsenyuk, ứng cử viên ưu tiên của bà Nuland, đã được bổ nhiệm làm thủ tướng Ukraine.

Chính phủ Hoa Kỳ đã hỗ trợ đắc lực trong việc loại bỏ một nhà lãnh đạo thân Nga được bầu cử dân chủ bằng cách đưa một nhà lãnh đạo do Hoa Kỳ lựa chọn lên nắm quyền.

Điện Kremlin, theo dõi những sự kiện này diễn ra, không đợi quá lâu để hành động và đã sáp nhập bán đảo Crimea chỉ vài ngày sau đó.

Công tố viên điều tra nhà tài phiệt Ukraine bị bãi nhiệm

Một trong số các thành viên thuộc chính phủ ông Yanukovych bị bãi nhiệm bởi cuộc đảo chính này là ông Mykola Zlochevsky, chủ sở hữu của công ty dầu khí Burisma Energy.

Ban đầu ông giữ chức bộ trưởng sinh thái và tài nguyên thiên nhiên, và sau đó trở thành thứ trưởng đặc trách kinh tế và an sinh xã hội. Trong thời gian tại vị trong chính phủ, các công ty của ông Zlochevsky được biết là đã nhận được một số lượng lớn bất thường các giấy phép khai thác dầu và khí đốt.

Vào tháng 04/2014, các công tố viên của Vương quốc Anh đã thu giữ khối tài sản trị giá lên đến 23.5 triệu USD thuộc sở hữu của ông Zlochevsky, được lưu trữ tại một ngân hàng ở London, cáo buộc rằng ông Zlochevsky đã thực hiện hành vi phạm tội ở Ukraine.

Sau khi ông Zlochevsky đột ngột bị bãi chức trong chính phủ, công ty Burisma đã bổ nhiệm con trai của ông Biden là ông Hunter vào ban giám đốc của công ty này. Ngoài ông Hunter, Burisma cũng đã bổ nhiệm ông Devon Archer, một cộng sự của ông Hunter Biden, người gần đây đã bị tống giam ở New York do vai trò của ông ta trong một âm mưu lừa đảo một bộ tộc người Mỹ bản địa trị giá lên đến 60 triệu USD.

Ông Hunter Biden đi bộ đến chiếc trực thăng Marine One trên bãi đậu Ellipse bên ngoài Tòa Bạch Ốc ở Hoa Thịnh Đốn, hôm 22/05/2021. (Ảnh: Brendan Smialowski/AFP/Getty Images)

Cả ông Hunter Biden và ông Archer đều được chiêu mộ hồi tháng 04/2014, vào khoảng thời gian mà quỹ tài chính của ông Zlochevsky bị thu giữ ở London. Mặc dù việc bổ nhiệm ông Hunter không được công bố cho đến hôm 12/05/2014, nhưng Burisma đã đăng một bức ảnh của ông Archer và ông Joe Biden trên trang web của mình hôm 17/04/2014. Bức ảnh được chụp tại Tòa Bạch Ốc trước đó một ngày.

Theo một thư điện tử của Bộ Ngoại giao, trong năm đầu tiên của ông Hunter tại Burisma, công ty này bị cáo buộc đã trả 7 triệu USD tiền hối lộ cho văn phòng tổng công tố của Ukraine để giúp dập tắt cuộc điều tra về ông Zlochevsky của Vương quốc Anh. Kế đó, văn phòng tổng công tố Ukraine đã gửi một lá thư cho những người đồng cấp của họ tại Vương quốc Anh thông báo rằng vụ kiện chống lại ông Zlochevsky đã không còn nữa. Sau đó, các công tố viên của Vương quốc Anh đã buộc phải trả lại các khoản tiền đã bị tịch thu trước đó của ông Zlochevsky.

Đáng chú ý là, vào thời điểm mà Burisma bị cáo buộc trả khoản hối lộ nói trên vào cuối năm 2014, ông Hunter Biden đã được Burisma liệt kê là người đứng đầu đơn vị pháp lý của công ty. Tổng công tố, ông Vitaly Yarema, trước đây từng là phó thủ tướng thứ nhất của Ukraine sau cuộc đảo chính năm 2014 do Hoa Kỳ dẫn dắt. Ông Yarema đã đột ngột từ chức chỉ hai tháng sau đó vào tháng 02/2015. Người thay thế ông Yarema, ông Viktor Shokin, đã được đưa trở lại làm việc sau khi đã về hưu để trở thành tổng công tố của Ukraine.

Ban đầu việc bổ nhiệm ông Shokin được giới chức Hoa Kỳ hoan nghênh, nhưng đột nhiên ông lại không được Hoa Kỳ ủng hộ nữa vào cuối năm 2015. Cũng trong khoảng thời gian này, người đứng đầu hội đồng quản trị của công ty Burisma, ông Vadym Pozharskyi, đã gửi thư điện tử cho ông Hunter Biden hôm 02/11/2015. Trong bức thư này, ông Pozharskyi đã thúc giục ông Hunter Biden làm “những việc cần làm”, nói rằng “mục đích cuối cùng” là “xóa sổ các vụ truy tố hoặc theo đuổi” pháp lý chống lại chủ sở hữu của công ty Burisma là ông Zlochevsky ở Ukraine.

Chưa đầy ba tuần sau, ông Joe Biden bắt đầu yêu cầu bãi nhiệm ông Shokin, người mà vào thời điểm đó đã mở lại cuộc điều tra về ông Zlochevsky và cũng đã thành công trong việc thỉnh cầu một mệnh lệnh từ các tòa án Ukraine để tịch biên tài sản của ông Zlochevsky. Chưa đầy bảy tuần sau khi tịch biên tài sản của ông Zlochevsky, hôm 29/03/2016, ông Shokin đã bị bãi nhiệm. Sau đó, ông Biden đã khoe khoang một cách đầy tai tiếng rằng ông đã tận dụng khoản bảo lãnh cho vay trị giá 1 tỷ USD của chính phủ Hoa Kỳ để buộc ông Shokin bị bãi nhiệm. Cho đến tận bây giờ, ông Shokin chưa hề bị buộc tội vì bất kỳ hành vi sai trái nào.

Ông Amos Hochstein, một đặc phái viên của Hoa Kỳ, đã cảnh báo riêng cho ông Biden về mối liên hệ của ông Hunter với một trùm tài phiệt tham nhũng. Ông Biden được cho là đã phớt lờ những lời cảnh báo này.

Màn kịch RussiaGate khiến mối bang giao với Nga ngày càng suy yếu

Trong bối cảnh chính trị này, với tình trạng bất ổn của Ukraine và việc Nga tức giận trước cuộc đảo chính do Hoa Kỳ hậu thuẫn, chiến dịch tranh cử tổng thống của bà Hillary Clinton đã có một quyết định gây họa khi cáo buộc rằng Nga đã can thiệp vào cuộc bầu cử tổng thống năm 2016 với mục đích trợ giúp ứng cử viên khi đó là ông Donald Trump. Bà Clinton và những cáo buộc mang tính định hướng chính trị của chiến dịch tranh cử của bà càng làm suy yếu thêm mối bang giao Hoa Kỳ-Nga vốn đã căng thẳng, và tác động từ các hành động của bà vẫn còn thấy được cho đến ngày nay.

Việc sử dụng Nga để tấn công ông Trump được chia làm hai mũi nhọn. Đầu tiên, chiến dịch tranh cử của bà Clinton đã thuê cựu điệp viên người Anh Christopher Steele viết ra một hồ sơ bịa đặt để mô tả ông Trump như một con rối bị thỏa hiệp của Điện Kremlin. Nhằm cung cấp hậu thuẫn cho các tuyên bố trong hồ sơ này, các đặc vụ đã tạo ra một luồng dữ liệu giả mạo để hiển thị thông tin liên lạc giữa ông Trump và Điện Kremlin. Khi thực hiện việc đó, các thành viên trong chiến dịch tranh cử của bà Clinton đã ngụy tạo bằng chứng giả về việc thông đồng giữa một ứng cử viên tranh cử tổng thống và Điện Kremlin. Những hành động này vẫn duy trì sau khi ông Trump đã trở thành tổng thống, bằng chứng là một luật sư trong chiến dịch tranh cử của bà Clinton đã đến CIA để cung cấp thêm dữ liệu từ chính các đặc vụ nói trên hồi tháng 02/2017, như đã được tiết lộ trong hồ sơ tòa án của biện lý đặc biệt John Durham.

Nhưng không chỉ chiến dịch tranh cử của bà Clinton mới đưa ra những cáo buộc này. Cộng đồng Tình báo, hành động trong một trò chơi địa chính trị nguy hiểm, đã hỗ trợ chiến dịch tranh cử của bà Clinton bằng cách ủng hộ tuyên bố của bà rằng Nga đang can thiệp vào cuộc bầu cử của Hoa Kỳ để hậu thuẫn cho ông Trump.

Đội ngũ chiến dịch tranh cử của bà Clinton đã dựng lên câu chuyện sai sự thật về sự thông đồng giữa ông Trump và Nga, đỉnh điểm là việc họ đã chèn hồ sơ ngụy tạo của ông Steele vào một bản đánh giá chính thức của cộng đồng tình báo, đã rất thành công trong việc gán ghép ông Trump vào tình thế có liên quan đến các giao dịch với Nga — gây ra các tác động nghiêm trọng về an ninh quốc gia.

Kết quả là việc chỉ chăm chăm tập trung vào Nga cũng khiến Hoa Kỳ chuyển sự chú ý khỏi một địch thủ nguy hiểm hơn rất nhiều, đó là Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Tuyên bố sai sự thật về âm mưu máy điện toán xách tay của Nga

Bốn năm sau, trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2020, đội ngũ chiến dịch tranh cử của ông Biden đã đưa ra các tuyên bố riêng của họ cho rằng Nga đang can thiệp vào cuộc bầu cử, nhằm hậu thuẫn cho ông Trump một lần nữa.

Khi ổ đĩa rời bị ông Hunter Biden bỏ quên xuất hiện vài tháng trước cuộc bầu cử, ổ đĩa này chứa rất nhiều thư điện tử gây tổn hại và các thông tin buộc tội khác về gia đình nhà ông Biden, bao gồm cả thư điện tử từ người đứng đầu hội đồng quản trị của công ty Burisma hôm 02/11/2015, yêu cầu ông Hunter Biden dập tắt cuộc điều tra về chủ sở hữu của Burisma. Chiếc máy điện toán xách tay này cũng ẩn chứa nhiều thông tin gây tổn hại khác, kể cả những móc nối của ông Biden con với Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Mặc dù các công ty truyền thông và các nền tảng mạng xã hội lớn đã lập tức hạn chế — hoặc trong một số trường hợp đã cấm đoán hoàn toàn — việc chia sẻ các bài báo liên quan đến câu chuyện về chiếc máy điện toán xách tay này, cựu Tổng thống Trump đã công khai đề cập đến vấn đề này trong buổi tranh luận bầu cử tổng thống thứ hai hôm 22/10/2020. Đáp lại, ông Biden đã chọn cách đổ lỗi cho Nga về việc xuất hiện chiếc ổ đĩa rời của con trai mình.

Khẳng định của ông Biden bắt nguồn từ các tuyên bố tương tự từ các cấp cao nhất trong cộng đồng tình báo của Hoa Kỳ, kể cả cựu Giám đốc CIA John Brennan, người đã nói trong một tuyên bố chung rằng máy điện toán xách tay của ông Hunter Biden “có tất cả các dấu hiệu kinh điển của một chiến dịch tình báo của Nga.”

Hóa ra sau đó, các thư điện tử của ông Hunter là đích thật và không phải là một âm mưu của Nga.

Tạo thêm gánh nặng cho tình hình địa chính trị vốn đã căng thẳng, ông Biden cũng như ngoại trưởng của ông là ông Antony Blinken vẫn tiếp tục duy trì tư cách thành viên NATO cho Ukraine, gần đây nhất là hồi tháng 12/2021. Thậm chí Bộ trưởng Quốc phòng Lloyd Austin còn đi xa hơn khi nói rằng cánh cửa đã mở rộng để chào đón Ukraine trở thành thành viên khối NATO, trong chuyến công du đến Ukraine hồi tháng 10/2021. Những lời hứa hẹn này, chắc chắn đã kích động Nga, là hoàn toàn trái ngược với những cảnh báo từ chính giám đốc CIA của ông Biden, người mà trước đó đã tuyên bố rằng tư cách thành viên NATO của Ukraine là “điều cấm kỵ nhất trong mọi lằn ranh đỏ” đối với Nga.

Mục tiêu an ninh quốc gia toàn diện của Hoa Kỳ chỉ nên tập trung vào việc ngăn chặn Nga và Trung Quốc hình thành các liên minh chặt chẽ hơn. Sự phỉ báng Nga, một phần do các hành động tư lợi của các quan chức hàng đầu Hoa Kỳ như bà Clinton và ông Biden, đã làm suy yếu nghiêm trọng mục tiêu đó.

Với sự bùng nổ chiến tranh ở Ukraine và hậu quả là sự cô lập hoàn toàn của Nga với phương Tây, mục tiêu đó đã không còn có thể đạt được.

Kết quả có thể xảy ra là Nga và Trung Quốc sẽ ngày càng xích lại gần nhau hơn.

Ông Jeff Carlson là người đồng dẫn chương trình Truth Over News trên Epoch TV. Twitter: @themarketswork.

Ông Hans Mahncke là người đồng dẫn chương trình Truth Over News trên Epoch TV. Twitter: @hansmahncke.

Jeff Carlson và Hans Mahncke thực hiện
Doanh Doanh biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc từ The Epoch Times

Mời các bạn xem thêm video tại:

 

Xem thêm: