Có một số người cảm thấy người tốt trên đời không được phúc báo, người tín Phật kiền thành không được Thiên thượng phù hộ, liền nghĩ rằng “vậy còn tu luyện làm gì?”. Nhân gian vốn là tầng thứ khiến con người nhìn không thấy được chân tướng, câu chuyện này sẽ giúp mọi người giải đáp nghi ngờ.

Thời nhà Thanh, ở Ngô Giang, Giang Tô có một người tên là Khoái Lan Chu, là một cư sĩ thờ Phật tại nhà. Ngày thường, từ lúc tinh mơ ông đã thức dậy tụng “Kinh Kim Cang”, buổi tối cũng trì tụng trong điện đường xây ngay trong nhà mình, thắp một ngọn đèn lưu ly, ngồi xếp bằng trên bồ đoàn.

Nói đến sinh hoạt ngày thường của ông thì giống như một vị tăng nhân khổ hạnh, suốt hai mươi năm không hề vào phòng ngủ. Trong nhà nghiêm cấm giết chóc, chỉ phóng sinh, thức ăn từ động vật không bao giờ có trong nhà. Trong các ngày lễ tết, ông cẩn thận chuẩn bị đậu, trái cây, rau cỏ tế tự tổ tiên, đối với người hầu, tỳ nữ thì phát cấp “tiền ăn mặn”, nhưng bảo họ tập trung ra cửa hàng bên ngoài ăn uống.

Khoái Lan Chu có đứa con gái tên là Ấu Lan, tự Tố Quyên, nhận được sự cảm hóa của cha, cũng kiền thành tín Phật, người không đeo trang sức ngọc bội, đã hai mươi tuổi rồi nhưng phát thệ không lấy chồng. Cô rất tín phụng Quan Âm Bồ Tát, mỗi ngày đều đốt hương niệm chú, trong khuê phòng khói hương vờn quanh, chẳng hề kém cạnh chùa miếu.

Khi người thân, bạn bè, hàng xóm của Khoái cư sĩ có khó khăn cần giúp đỡ, ông liền khẳng khái giúp không chút nề hà. Tuy nhiên, Khoái cư sĩ không giỏi làm ăn, cảnh nhà ngày một đi xuống. Thời gian sau đó, quan phủ đến nhà thu tô thuế, khách đòi nợ tiền, việc nhà xoắn xuýt khiến một người đã quen với cuộc sống an dật như ông trở nên phiền não, việc bái Phật niệm kinh cũng bị ảnh hưởng lớn, đến nỗi tích chứa lo âu thành bệnh. Trên lưng ông sau đó có một vết loét lớn, thầy thuốc bó tay, trị lâu ngày cũng không khỏi, cuối cùng qua đời. 

Con gái Ấu Lan gặp chuyện cha qua đời, cơ hồ đau lòng không muốn sống nữa. Họ hàng thân thích nói: “Cha con tín Phật kiền thành như thế, xưa nay hiếm thấy, nhưng Thiên thượng một chút cũng không gia hộ, Phật Tổ rốt cuộc còn linh không?”

Nghe được lời này, Ấu Lan càng thêm buồn bã, đau thương. Vì thế cô đau khổ sinh bệnh, mỗi ngày chỉ uống một chén trà, một chút cơm cũng không đụng đến. Không được bao lâu, thân thể hao mòn như cây củi, tiều tụy, người hầu đều nói: “Sợ rằng tiểu thư sống không được bao lâu nữa”.

Đến một ngày nọ, Ấu Lan chật vật ngồi dậy, gọi tỳ nữ chuẩn bị nước nóng. Tỳ nữ dùng bồn tắm gỗ đựng nước, nhưng Ấu Lan lại bảo họ dùng bồn bằng đồng, còn nói: “Các người chớ để những thứ dơ bẩn chạm vào ta, sau khi ta tắm rửa sạch sẽ sẽ đích thân đến thế giới Liên Hoa diện kiến Bồ Tát”.

Ấu Lan sau khi tắm xong, liền ngồi trên bồ đoàn, hai mắt nhắm nghiền, hơi thở dần dần yếu đi. Không lâu sau, cô lại mở mắt dặn dò người nhà: “Sau khi ta chết, hãy dùng hộp bảo vệ di thể của ta, đặt trong phòng, không cần dùng quan tài, sau bảy ngày, ta sẽ hoàn dương sống lại”. Nói xong liền tắt hơi thở.

Người trong nhà theo đúng lời dặn, đặt thi thể trong phòng. Bảy ngày liên tiếp, thi thể của cô không hề bị đông cứng, sắc mặt ngược lại dần dần trở nên hồng hào, chạm vào người cô thấy vẫn còn hơi ấm. Đến nửa đêm ngày thứ bảy, người nhà bỗng nghe âm thanh yếu ớt trong hộp, giữa bầu trời có tiếng nhạc du dương truyền đến. Mọi người đều thấy kỳ quái, hoang mang mở hộp ra, thấy Ấu Lan đã sống lại.

Cô chắp tay niệm: “Thiện tai, Thiện tai! Phật của ta không ở Tây Thiên, chỉ ở trong tâm mỗi người. Nói cho chúng sinh các người, không thể không tin địa ngục, thiện ác báo ứng, như bóng theo hình”. Mọi người khẩn thiết mong cô nói những gì tai nghe mắt thấy trong những ngày qua.

Nhân quả báo ứng, địa ngục hiển hiện

Bức“Ngũ thất Diêm La Đại vương đồ” của Lục Trung Uyên. (Ảnh: Miền công cộng)

Ấu Lan liền nói những ghi chép nhân quả báo ứng mà cô nhìn thấy trong địa ngục:

 “Sau khi tôi chết, nhìn không thấy đường, chỉ thấy cát vàng bến mê, một mảng u tối. Thế là tôi liền mặc niệm “Diệu pháp Liên hoa kinh”, trong phút chốc ánh sáng chiếu khắp mặt đất, giống như ban ngày. Tiếp đó nhìn thấy cờ phướn (lộng che), từ từ theo đám mây giáng xuống, thẳng đến nơi gần sát mặt đất.

Tôi ở trong một khoảng hào quang chói sáng, nhìn thấy thân vàng cao khoảng một trượng sáu tấc, gương mặt hiền hòa, tươi sáng, mới biết đó là Quan Âm đại sĩ. Bèn lập tức phủ phục trên đất, thỉnh cầu cứu giúp, thoát khỏi biển khổ. 

Đại sĩ nói: “Con không nên đến nơi này, mau quay về đi!”. Rồi ngài dùng cành dương lấy nước trong bình vẩy xuống khắp hạ giới, lúc vẩy lên người tôi, tôi bỗng thấy lòng nhẹ nhàng, thanh mát, bừng tỉnh. 

Tôi bèn nói: “Cha con bây giờ đang ở đâu? Xin Bồ Tát cho con gặp một lần”.

Đại sĩ nói: “Cha con bây giờ đang ở tầng trời thứ hai hưởng nhận phước lành, phước đủ rồi mới thăng lên tầng trời khác. Con cần cố gắng tu thành chính quả, mới có thể gặp được cha con. Còn không, người trời cách trở mãi mãi không thể gặp nhau”. Sau khi nghe xong, tôi nghĩ mà đau lòng khóc.

Đại sĩ nói: “Đừng như vậy. Con đã đến nơi này, ta sẽ lệnh cho thị giả Chiên Đàn đưa đi tham quan địa ngục một chút, để người đời hiểu được các loại tội ác khác nhau sẽ chịu báo ứng khác nhau, nhân trước quả sau, trên đời làm việc ác, xuống địa ngục sẽ chịu tội hình, không hề bỏ sót”. 

Thị giả Chiên Đàn từ trong vòng hào quang bay xuống, dẫn tôi đến Âm tào địa phủ.

Tôi được dẫn đến yết kiến Diêm La Vương, theo hầu trong điện có các quỷ tốt đầu trâu mặt ngựa, từng người đều hung dữ, giống như hình dạng mà người thế gian vẽ. Thị giả Chiên Đàn chuyển mệnh lệnh của Quan Âm đại sĩ đến Diêm La Vương. Diêm La Vương đứng lên cung kính nghe, lập tức phái quỷ tốt đi trước dẫn đường, lấy chìa khóa mở cổng địa ngục đưa cho tôi xem. 

Trong mỗi tòa ngục đều có một hai người mà tôi quen. Có người họ Tiết sống ở cửa Bắc, Ngô Giang, thường ngày tinh cần niệm Phật, người trong làng đều gọi cô là “thiện nhân”, thường đến chỗ tôi khuyến mộ, nhưng bị đưa vào địa ngục băng lạnh, cái lạnh khiến khắp người run rẩy không ngừng. Tôi bèn hỏi: “Cô ấy là người tín Phật, vì sao cũng phải chịu khổ vậy?”. Quỷ tốt nói: “Người này lòng tham vô độ, mượn danh Phật đến nơi khác hóa duyên, của cải thu được đều thu về làm lợi riêng, lại còn cho vay nặng lãi, cho nên chịu khổ nạn như vậy”.

Dẫn đến một nơi khác, nhìn thấy chị dâu góa chồng năm nay hai chân bị khóa trên ván cửa, đau đớn vô cùng. Tôi hỏi chị ấy: “Chị đến đây lúc nào? Phạm tội nghiệt gì mà chịu khổ như vậy?”

Quỷ tốt trả lời thay chị ấy: “Cô ta lúc còn sống tâm ghen tuông nặng nề, không cho chồng nạp thiếp, đến nỗi nhà chồng tuyệt hâu; lại còn đối đãi tàn khốc với người hầu, đánh mắng chửi bới không việc gì không làm”.

Tôi liền nói: “Tôi nghĩ chị ấy không ăn thịt bò, mỗi khi đến nơi Phật tự đều đốt hương, vẫn không thể chuộc tội sao?”

Quỷ tốt nói: “Những việc tốt nhỏ nhặt thể hiện ra bên ngoài như thế không đủ để chuộc tội”.

Sau đó còn dẫn đến cầu Nại Hà, cầu cao khoảng mười trượng, bề mặt rộng chỉ vài tấc, không cẩn thận rơi xuống sẽ bị rắn độc dưới sông cắn. Thấy một người anh họ của tôi cũng ở trong sông, tôi thực sự cảm thấy kỳ lạ, ngày trước anh ấy còn đến nhà tôi thăm hỏi bệnh tình của tôi mà!”

Lúc này, có một người hầu nói: “Anh ta hôm qua mới chết vì mắc bệnh đột ngột. Kể ra cũng là ác giả ác báo, ngày kia anh ta lấy lý do thăm bệnh, để cướp đoạt hết bảo vật tinh xảo trong phòng tiểu thư”.

Ấu Lan nói: “Còn có chuyện này, tôi ở trong địa ngục nhìn thấy dì Trương ở cửa Nam vì khó sinh mà qua đời, dì ấy cùng đứa bé đều bị dìm trong hồ máu. Tôi liền khẩn cầu thị giả Chiên Đàn cứu họ, bẩm báo dì Trương từng trong một đêm tuyết rơi lớn cứu sống hai mẹ con người ăn mày sắp chết cóng. Thị giả liền ném một đóa hoa sen về cô ấy, mẹ con cô ấy mới được lên bờ bên kia”.

Có một người phụ nữ trong đám người liền lập tức quỳ xuống khấu đầu bái lạy, nói: “Tôi chính là bảo mẫu của dì Trương ở cửa Nam. Chủ mẫu đêm qua khó sinh mà qua đời, hôm nay bỗng nhiên sống lại, nói là tiểu thư ở âm gian đã cứu bà ấy, đến nay mẹ con bình an, nên đặc biệt sai tôi đến đây khấu tạ tiểu thư trước!”

Mọi người nghe Ấu Lan nói về những điều tai nghe mắt thấy ở địa ngục, ai nấy đều ngạc nhiên và xúc động. Cả đám người đều phát nguyện từ nay sửa đổi và làm việc thiện. Ấu Lan sau khi hồi phục, sống thêm ba mươi sáu năm nữa và luôn luôn kiền thành kính Phật. 

(Nguồn tư liệu: “Tùng ẩn mạn lục”)

Thiên Lý biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc từ Epoch Times Hoa ngữ

Xem thêm: