Tào Tháo từ chỗ không chút thế lực đã thu nạp anh hùng, dũng sĩ, văn tài, võ lược đầy khắp gia môn. Khi ấy, ông chính là hùng bá một phương, bắt đầu tranh giành Trung Nguyên cùng với các chư hầu. Vang danh thiên hạ, thuận theo mệnh trời mà hưng thịnh.

Phần 1: Phong lưu thiên cổ ẩn giấu thiên cơ

Phần 2: Kế thừa dự ngôn, minh chủ xuất hiện

Ngụy Vũ Đại Đế Tào Tháo (Ảnh: Epoch Times Tiếng Hoa) 

2. Giương cờ nghĩa, diệt bạo loạn, phò ấu chúa

Năm thứ 6 Trung Bình (tức năm 189), Hán Linh Đế băng hà. Hoàng tử Lưu Biện mới 14 tuổi lên ngôi, tức là Hán Thiếu Đế, tôn mẫu thân Hà hoàng hậu làm Hoàng Thái hậu. Hà Thái hậu lâm triều nhiếp chính, phong Viên Ngỗi làm thái phó và Hà Tiến (anh trai mình) làm Tham lục Thượng thư. Hà Tiến và Viên Thiệu lập mưu tận diệt hoạn quan, trừ bỏ mối họa hậu cung nhưng Thái hậu không nghe. Bè đảng của Thiệu lại đưa kế chiêu mộ anh hùng khắp bốn phương dẫn binh tiến về kinh thành để uy hiếp Thái hậu. Hà Tiến cũng nhắm mắt mà ủng hộ kế sách này.

Tào Tháo nghe vậy liền bật cười, nói: “Cái họa hoạn quan xưa nay đều có, chỉ là Chúa thượng sủng ái chúng nên mới đến nông nỗi này. Nếu như muốn trừng trị thì giết ngay kẻ cầm đầu là được, chỉ cần dùng một viên cai ngục là đủ, hà tất phải triệu mời tướng ở ngoài về. Nếu muốn một mẻ bắt sạch, khó tránh khỏi rút dây động rừng, việc tất bại lộ. Ta thấy việc này trước sau gì cũng sẽ thất bại“. (Tư trì thông giám, quyển 59)

Hà Tiến triệu Đổng Trác về kinh. Trác chưa vào đến nơi thì Hà Tiến đã bị bè lũ hoạn quan Trương Nhượng giết rồi. Khi Trác đến, phế Thiếu Đế xuống làm Hoằng Nông Vương mà lập Trần Lưu Vương Lưu Hiệp lên làm Hán Hiến Đế. Kinh đô đại loạn, Thái hậu khóc nghẹn, quần thần đau xót không dám nói nửa câu. Sau đó, Đổng Trác âm thầm cho người hạ sát Thái hậu và Thiếu Đế. Năm thứ 6 Trung Bình (năm 189), tháng 11, Đổng Trác lên làm Tướng quốc, gặp vua không cần bẩm báo tên họ, vào triều không cần phải quỳ, được phép mang kiếm lên thượng điện, thay vua phê duyệt triều chính. 

Đổng Trác phong Tào Tháo làm Kiêu kỵ Hiệu úy. Tào Tháo đoán rằng Đổng Trác cuối cùng cũng sẽ bại vong nên không theo Trác, thay đổi tên họ chạy trốn khỏi Lạc Dương. Đổng Trác liền phái quân truy đuổi, thông báo truy nã. Khi Tào Tháo đi qua huyện Trung Mâu (tỉnh Hà Nam ngày nay) thì bị một viên đình trưởng bắt giữ. Sau có người ngầm biết công lao to lớn của Tào Tháo nên đã mở lời với huyện lệnh xin phóng thích ông. 

Tào Tháo đi về Trần Lưu (thuộc Diễn Châu ngày nay), dốc hết gia tài, tập hợp nghĩa binh, thảo phạt Đổng Trác. Tào Tháo dựng cờ chiêu binh, trên đó có ghi hai chữ “Trung nghĩa”, tập hợp được năm nghìn nhân mã. Nhạc Tiến, Lý Điển, anh em Hạ Hầu Đôn, Hạ Hầu Uyên, anh em Tào Hồng, Tào Nhân cũng đầu quân theo, về sau đều là đại tướng dưới trướng Tào Tháo. 

Sơ Bình, năm 190, tháng Giêng mùa xuân, các châu quận Quan Đông cũng ồ ạt khởi binh thảo phạt Đổng Trác, hưởng ứng cùng quân Tào, gồm có Hậu tướng quân Viên Thuật, Ký Châu mục Hàn Phức, Thứ sử Dự Châu Khổng Trụ, Thứ sử Duyện Châu Lưu Đại, Thái thú Hà Nội Vương Khuông, Thái thú Bột Hải Viên Thiệu, Thái thú Trần Lưu Trương Mạc, Thái thú Đông Quận Kiều Mạo, Thái thú Sơn Dương Viên Di, Tế Bắc tướng Bào Tín. Quân mã tập hợp lại có đến mấy vạn người, suy tôn Viên Thiệu làm minh chủ, Tào tháo làm Phấn Vũ tướng quân. Chúng hào kiệt một lòng về với Viên Thiệu, quyết tru diệt Đổng Trác. Duy chỉ có Tế Bắc tướng Bào  Tín cho rằng Tào Tháo mới là người xuất chúng, có khả năng dẹp được đại loạn. “Kẻ có trí lược chẳng kể xuất thân, người có thể thâu gồm kẻ anh hùng để dẹp trừ họa loạn quay về chính đạo, là ngài vậy. Nếu chẳng phải là người được như thế, dẫu có cường mạnh tất cũng thất bại. Ngài chỉ nên đợi thời mà hành động!”.

Tháng hai năm ấy, Đổng Trác thấy quân liên minh thế lực quá mạnh, bèn dời Thiên tử về đóng đô tại Trường An. Trách đóng quân ở thành Lạc Dương, rồi thiêu rụi cung thất. Bấy giờ, Viên Thiệu vì e sợ quân Đổng Trác còn mạnh nên không dám truy kích. Tào Tháo khuyên rằng: “Ta cất nghĩa binh để đánh kẻ bạo loạn, đại quân đã đủ, các ngài còn chờ gì nữa? Tuy nhiên các tướng lĩnh đều không nghe theo. Tào Tháo một mình dẫn quân Tây tiến, đến Huỳnh Dương, Biện Thủy thì đánh nhau với quân Đổng Trác. Giữa rừng tên bắn, ngựa của Tào Tháo bị thương. Lúc đó Tào Hồng liền nhường ngựa của mình cho Tào Tháo. Tào Tháo kiên quyết không lấy, Hồng rằng: “Thiên hạ có thể không có Hồng, nhưng không thể không có ngài”. 

Tào Tháo về đến Toan Tảo, nhìn thấy hơn 10 vạn liên quân đang ngày ngày vui vẻ rượu chè, không ôm chí tiến thủ. Ông lại một lần nữa hiến kế sách: 

Các ông hãy nghe kế của ta, để Bột Hải dẫn quân Hà Nội đến Mạnh Tân, các tướng ở Toan Tảo giữ Thành Cảo, chiếm Ngao Thương, ngăn Hoàn Viên, Thái Cốc, chẹn hết chỗ hiểm yếu. Lại cho Viên tướng quân dẫn quân Nam Dương hành quân đến Đan, Tích, tiến vào Vũ Quan, khiến Tam Phụ chấn động. Ba quân đều giữ tường cao hào sâu, chớ giao chiến, làm nghi binh, tỏ rõ hình thế lớn trong thiên hạ, lấy lẽ thuận trừ nghịch tặc thì có thể bình định được vậy. Nay cất binh làm việc nghĩa, lại ôm mối ngờ vực mà trì hoãn chẳng chịu tiến lên, làm thiên hạ thất vọng, trộm nhục thay cho các ông!“. 

Nhưng cuối cùng kế sách vẹn toàn ấy của Tào Tháo lại bị gạt sang một bên. Các tướng vẫn còn sợ đánh với Đổng Trác nên không dám tiến công, ngược lại lại vì tranh giành lợi ích mà tàn sát lẫn nhau. Viên Thiệu bức ép Hàn Phức nhường lại Ký Châu, và sau đó chiếm lĩnh luôn Ký Châu Mục.

Viên Thiệu, Hàn Phức muốn lập U Châu mục của phương bắc là Lưu Ngu làm vua. Viên Thiệu tự mình đã khắc xong ngọc tỷ của Hoàng đế, đem ngọc tỷ ra khoe với Tào Tháo. Lúc ấy, thiên hạ đại loạn, dân chúng lầm than. Tào Tháo làm bài “Hao Lý hành” thuật rõ lại tình thế loạn lạc đó. 

“Nghĩa sĩ ở Quan Đông dấy binh thảo phạt gian tà.
Buổi đầu hội quân ở Mạnh Tân mà lòng lại hướng về Hàm Dương.
Quân liên minh sức không đủ, chần chừ không hành động.
Quyền lợi khiến người người tranh đấu, giết hại lẫn nhau.
Em ở Hoài Nam tự xưng hiệu, anh ở phương bắc khắc ngọc tỷ.
Giáp trụ sinh ra lũ chấy rận khiến muôn dân phải chết.
Xương trắng phơi đầy đồng, nghìn dặm không một tiếng gà kêu.
Trăm người còn sót một, nghĩ đến mà đau đứt ruột gan người.”

Nguyên văn:

“Quan Đông hữu nghĩa sĩ, Hưng binh thảo quần hung.
Sơ kỳ hội Mạnh Tân,Nãi tâm tại Hàm Dương.
Quân hợp lực bất tề, Trù trừ nhi nhạn hàng.
Thế lợi sử nhân tranh, Tự hoàn tự tương tường.
Hoài Nam đệ xưng hiệu, Khắc tỷ ư bắc phương.
Khải giáp sinh kỷ sắt, Vạn tính dĩ tử vong.
Bạch cốt lộ ư dã, Thiên lý vô kê minh.
Sinh dân bách di nhất, Niệm chi nhân đoạn trường.’

Tào Tháo chính là cắt tay dùng máu mà viết đầy lời “trung nghĩa” trên giấy, một lòng vì chúng dân thiên hạ mà mang lấy tâm bệnh vào thân. Ông càng đau lòng hơn khi chứng kiến các lộ chư hầu vì lợi ích mà tranh đoạt, tàn sát lẫn nhau, không màng đại nghĩa. Đương thời, Tào Tháo tuy không tụ hợp được quần thần nhưng vẫn một lòng trung, phò giúp ấu chúa. Tào Tháo bao lần can gián nhưng chẳng ai nghe, nghĩa quân tự đánh mất cơ hội tốt. Ông thực sự thất vọng vô cùng, mắt nhìn “Bách tính thương vong, trăm người sống sót một người” mà đau như đứt ruột. Tào Tháo hiểu rõ các chư hầu chỉ biết mưu lợi cho bản thân, không thể hy vọng được nữa. Nhưng lực lượng của ông lại quá yếu mỏng, biết làm sao đây? Cuối cùng, đã quyết định “Chư quân bắc diện, ngã tự tây hướng” (Các ngươi hướng về U Châu, Lưu Ngu, phía bắc mà xưng thần, còn ta tự đi về phía Tây để thảo phạt Đổng Trác). Phò chúa khôi phục quốc gia, cứu giúp dân chúng, một mình gánh vác đạo nghĩa, dù là ngàn vạn địch, Tào Tháo quả thực cũng không sợ vậy! 

Sau đó ít lâu, Tư đồ Vương Doãn và Tư Lệ hiệu úy Hoàng Uyển bí mật lên kế hoạch tiêu diệt Đổng Trác, có Trung lang tướng Lã Bố làm nội ứng. Mùa hè tháng tư, Hiến đế mở tiệc chiêu đãi quần thần ở điện Vị Ương. Trác mang triều phục rồi ngồi xe lên triều. Lã Bố phụng chiếu đem quân giết Đổng Trác, dân chúng hay tin ca múa hò hát trên khắp nẻo đường. 

Chân dung của Đổng Trác, Hình ảnh trong Tam quốc chí, lấy từ bản hiệu đính Nguyệt quảng bách tống trai, mùa đông năm Canh dần niên hiệu Quang Tự triều Thanh (Ảnh: Miền công cộng)

3. Phục hưng Đạo giáo, quần hùng quy về Họ Tào, thuận theo vận mệnh mà được hưng khởi

Thời Đông Hán năm thứ tư niên hiệu Kiến Sơ (tức năm 79 SCN), Hán Chương Đế triệu tập các tiến sĩ, Nho gia đến lầu Bạch Hổ bàn luận và nghiên cứu Ngũ Kinh và sai nhà sử học Ban Cố tổng hợp các ý kiến bàn luận lại thành cuốn “Bạch Hổ thông đức luận”. Việc tuyển chọn quan lại đều theo tiêu chuẩn Nho giáo khiến Nho giáo ngày càng hưng thịnh.

Đến những năm cuối triều Đông Hán, nhà Hán số mệnh đã tận, những kẻ hủ Nho trở nên bại hoại. Khi đó, Phật giáo Ấn Độ cũng bắt đầu truyền về phía đông, muốn kết duyên tại Trung Nguyên để lưu lại thời khắc lịch sử huy hoàng của văn hóa Thần truyền. Bấy giờ, Đạo gia vốn tu luyện theo phương thức đơn truyền dần bắt đầu hình thành nên Đạo giáo, đưa ra phổ truyền rộng rãi. Bối cảnh thiên tượng đó đã tạo ra sự cạnh tranh nhau suốt mấy trăm năm sau đó của hai trường phái Phật và Đạo.

Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế ra sức mở rộng phương pháp tu luyện dưỡng sinh của Đạo gia, các phương thức tu luyện đắc đạo thành tiên, phương sỹ, phương thuật được lưu truyền rộng rãi từ thời Tần đến Đông Hán, và sớm đã trở thành một bộ phận của Đạo giáo.

Lúc Đạo giáo hưng thịnh gồm có ba bộ phận là: Thiên sư đạo, Thái bình đạo và Phương thuật đều được truyền bá rộng rãi. Phụng thiên mệnh rằng: “Nhà Hán khí số đã tận, nhà họ Hoàng đang thành lập”. Thiên sư đạo, còn được gọi là Ngũ đấu mễ đạo, được thành lập bởi Trương Đạo Lăng thời Hán Thuận Đế nhà Hán. Trương Đạo Lăng, tự Phủ Hán,  người Bái Quốc Phong Từ Châu, học rộng biết nhiều, thông thạo ngũ kinh, tinh thông kinh sử, là hậu duệ của Tập Lưu Hầu. Hán Hòa Đế lấy vàng bạc gấm vóc, dùng xe 4 ngựa kéo bái ông ấy là Thiên Phó, nhưng ông không chấp nhận, sau một thời gian ngắn, ông cùng đệ tử sang đất Thục và tu luyện Đạo giáo ở núi Hộc Minh sơn. Thu nhận đồ đệ trên diện rộng, phàm là người nào gia nhập tu Đạo thì phải nộp 5 đấu gạo (mễ ngũ đấu), dùng bùa  nước trị bệnh cho người, bắt đệ tử niệm “Đạo Đức Kinh” của Lão Tử. 

Trương Đạo Lăng (Ảnh: Epoch Times Tiếng Hoa )

Vào những năm vua Hán Linh Đế tại vị, tại huyện Cự Lộc, Dự Châu có người tên là Trương Giác sáng lập ra “Thái Bình đạo”, Thái bình đạo phụng sự “Hoàng lão đạo” cũng gọi là “Trung ương hoàng lão”, “Trung hoàng thái nhất”, lấy thiện đạo giáo hóa thiên hạ, tín đồ có tới 36 vạn người. Hoàng Lão không phải Hoàng đế là một danh xưng của Đạo gia về Lão tử. Thái hoàng đạo lấy “Trung hoàng thái nhất” làm thiên thần chí tôn để phụng thờ, phản đối chư thần dâm tự. Trương Giác tự xưng là Đại Hiền Lương Sư, nói rằng “Trời xanh đã mất, trời vàng đang lập. Đến năm Giáp Tý, thiên hạ thái bình”. Trung Bình nguyên niên (tức công nguyên năm 184), Trương Giác mượn danh nghĩa Thái bình đạo để khởi sự, dùng khăn vàng làm cờ xí, tự xưng là quân Khăn Vàng (Hoàng Cân). Trương Giác xưng là Thiên công tướng quân, em trai Trương Bảo là Địa công tướng quân, em út Trương Lương xưng là Nhân công tướng quân. Khắp cả 8 châu (gần cả nước lúc bấy giờ) cùng  hưởng ứng, thanh thế cực lớn. Hán Linh Đế phải xuống chiếu ra lệnh cho các châu mục tự chiêu mộ binh lính để thảo phạt.

Lúc đó, hàng trăm vạn quân Hoàng Cân làm loạn từ Thanh Châu đến Duyện Châu. Thứ sử Duyện Châu Lưu Đại ra nghênh chiến với quân Hoàng cân nhưng thất bại, bị giết. Thế giặc rất mạnh. Mưu sĩ Trần Cung hiến kế rằng Tào Tháo hãy tự lên làm Duyện Châu mục. Tế Bắc tướng Bào Tín cũng muốn Tào Tháo nhận lãnh Duyện Châu. Tào Tháo bèn cầm binh tiến đánh quân Hoàng Cân. Tào Tháo tuần sát khích lệ, thiết lập thưởng phạt rõ ràng, nhân cơ hội xây dựng quân đội, ngày đêm luyện tập, lại nhiều lần viết thư mở đường chiêu hàng quân giặc. Quân giặc thua chạy, tan vỡ cả. Tháng 12 năm 192, Tào Tháo dẫn hơn một vạn binh truy đánh quân Hoàng Cân đến Tế Bắc thì giặc liền đầu hàng. Tào Tháo nhân đó thu hàng được hơn 30 vạn quân, trai gái hơn trăm vạn người, càng tăng thêm nhuệ khí. Ông bèn thu lấy những người tinh nhuệ nhất thành lập đạo quân Thanh Châu nổi tiếng thiện chiến trong lịch sử. 

Quân Thanh Châu của Hoàng Cân tác chiến dũng mãnh khác thường, binh lính rất điêu luyện, Tào Tháo chỉ có hơn vạn quân làm sao có thể thu phục được hơn 30 vạn quân giặc? Lý do chính là “Đạo”. Tín ngưỡng trước sau như một của quân Hoàng Cân là một trong những nguyên nhân chủ yếu để họ đầu hàng Tào Tháo. Quân Hoàng Cân viết thư cho Tào Tháo rằng: “Xưa ở Tế Nam ngài hủy hoại đàn tế, đó là cùng đúng theo kinh sách của chúng tôi. Đạo của chúng tôi giống đạo Trung Hoàng Thái ất, ngài đã biết rồi nhưng sao nay vẫn mơ hồ. Nhà Hán đã tận, trời vàng đang lập, đạo trời xoay vần, nếu không có Ngài thì không thể tồn tại được vậy”. 

Vậy là quân Thanh Châu đầu hàng Tào Tháo chứ không đầu hàng nhà Hán, chỉ vì “đồng Đạo” mà giúp sức Tào Tháo. Sử chép rằng, sau khi Tào Tháo mất, “Quân Thanh Châu tự ý đánh trống rút lui”, “Thái tổ (Tào Tháo) băng hà, quân Thanh Châu cho rằng thiên hạ đã loạn, cho nên cùng nhau thúc trống rời đi”.  (Tam quốc chí – Ngụy thư).

Sau khi thu hàng quân Hoàng Cân Thái bình đạo, Tào Tháo tiếp tục thâu nạp luôn Thiên sư đạo “Ngũ Đấu Mễ Đạo”, di dời dân Hán Trung về Trường An và Tam Phụ, để cho Thiên Sư đạo dời về phía bắc, rồi truyền rộng khắp nơi, cuối cùng truyền đến Giang Nam. Sau khi Tào Tháo làm Ngụy vương, đã chiêu mời phương sĩ khắp nơi về Nghiệp Thành. Ông nói: “Chỉ cần trên đời có phương sĩ, bản vương tất chiêu nạp hết. Khi đó Nghiệp Thành trở thành trung tâm văn hóa phương thuật. Nước Ngụy cả trên lẫn dưới đều theo phong tục mà học Đạo. Vì thế Đạo giáo ngày càng hưng thịnh và phát triển. “Ngũ Đấu Mễ Đạo” Trương Lỗ luôn giữ tâm niệm “Thà làm nô lệ cho Ngụy công”, lấy cờ xí về với Tào doanh. Phương sĩ các nơi dùng rất nhiều hình thức để tề tựu tại Tào môn. Đạo giáo ra cáo thị công nhận Tào Tháo là: “Hoàng đức tại Tào“. 

Sơ Bình năm thứ tư (tức năm 193 SCN), quân Tào tại Quyên Thành đại chiến với quân Viên Thuật. Viên Thuật tháo chạy về giữ huyện Phong Khâu. Tào Tháo truy đuổi, đại phá Thuật. Thuật trốn chạy đến Tương Ấp. Tào Tháo truy đuổi đến Thái Thọ, Thuật lại chạy về Ninh Lăng. Tào Tháo đuổi gấp không ngừng, Thuật chạy về Cửu Giang. Tào Tháo đắc thắng, cuối mùa hạ năm đó ông rút quân về Định Đào.

Cũng đầu năm đó, người huyện Hạ Phì là Khuyết Tuyên hội được mấy ngàn người, tự xưng là Thiên tử. Từ Châu mục Đào Khiêm và Khuyết Tuyên cùng nhau khởi binh chiếm lấy các huyện Hoa, Phí của quận Thái Sơn, đánh chiếm Nhiệm Thành. Mùa thu năm đó, Tào Tháo xuất quân chinh phạt Đào Khiêm, hạ được hơn mười thành, Khiêm trốn trong thành không dám ra. 

Giữa lúc đó, Trương Mạc và Trần Cung làm phản, về dưới trướng Lã Bố, đánh vào hậu phương quân Tào. Tuân Úc, Trình Dục giữ vững Quyên Thành. Tào Tháo đang trên đường chinh phạt Từ Châu bèn dẫn quân quay về. Năm 195, Tào Tháo đánh tướng của Lã Bố là Tiết Lan, Lý Phong ở huyện Cự Dã. Lã Bố dẫn binh cứu viện nhưng không thắng nổi nên bỏ chạy. Quân Tào giết hết nửa số quân của Tiết Lan. Lã Bố lại từ Đông Mân cùng với Trần Cung kéo theo hơn vạn người đánh Tào Tháo. Lúc đó quân Tào đang đi gặt lúa, trong thành không đến ngàn người. Tào Tháo bèn lệnh cho đàn bà, con gái cũng phải lên thủ thành, tất cả binh sĩ cũng phải dàn quân mà chống cự lại. Phía tây trại có dải đê lớn, phía nam thì cây cối um tùm. Lã Bố nghi có mai phục, bèn nói rằng: “Tào Tháo đa mưu cẩn thận trúng mai phục”. Lã Bố dẫn quân lùi về phía nam cách đó hơn mười dặm, đến ngày hôm sau mới quay trở lại. Khi ấy, Tào Tháo cho binh mã ẩn nấp ở dưới đê, chỉ cho một nửa binh lính ra nghênh chiến. Lã Bố tiến lên, Tào Tháo liền sai khinh binh đi khiêu chiến, sau đó phục binh bất ngờ xông lên, bộ binh, kỵ binh cùng tiến đánh. Tào Tháo đại phá quân Lã Bố, thu về rất nhiều chiến lợi phẩm, xe cộ, vũ khí. Nhân đó, quân Tào truy đuổi về tới doanh trại địch. Lã Bố bỏ chạy trong đêm. Tào Tháo lại tấn công san bằng Định Đào, chia quân bình định các huyện. Lã Bố khi ấy chạy về phía đông theo nhờ Lưu Bị. Trương Mạc cũng theo Lã Bố để em họ là Trương Siêu ở lại giữ thành Ung Khâu.

Tháng 8 mùa thu năm đó, Tào Tháo vây đánh thành Ung Khâu mấy tháng liền. Mùa đông tháng 10, Thiên tử bái Tào Tháo làm Duyện Châu mục. Tháng 12, Tào Tháo chiếm được Ung Khâu, Trương Siêu tự sát. Duyện Châu bình định xong, Thái Tổ lại đem quân sang chiếm lấy đất Trần. 

Tào Tháo từ chỗ không chút thế lực đã thu nạp anh hùng, dũng sĩ, văn tài, võ lược đầy khắp gia môn. Khi ấy, ông chính là hùng bá một phương, bắt đầu tranh giành Trung Nguyên cùng với các chư hầu. Vang danh thiên hạ, thuận theo mệnh trời mà hưng thịnh . 

Tổ nghiên cứu nhân vật Thiên cổ anh hùng của văn hóa thần truyền huy hoàng 5000 năm .

Mạnh Hải biên dịch
Tham khảo bản gốc từ The Epoch Times.

(Còn tiếp)

Xem thêm:

Với 22 ngôn ngữ, Epoch Times là một kênh truyền thông Mỹ độc lập theo nguyên tắc Sự Thật và Truyền Thống. Thông qua những bài báo trung thực, cung cấp sự thật và làm sáng tỏ những vấn đề xã hội quan trọng, Epoch Times mong muốn gửi đến Quý độc giả những giá trị nhân văn của sự chính trực, lương thiện, lòng trắc ẩn, hay những bài học quý giá từ lịch sử, đồng thời tôn vinh các giá trị phổ quát của nhân loại.

Rất mong nhận được sự ủng hộ và đồng hành của Quý độc giả thông qua việc chia sẻ, lan tỏa các bài viết đến với cộng đồng. Epoch Times tin rằng đây là cách để chúng ta cùng kiến tạo tương lai, đi tới một đại kỷ nguyên mới huy hoàng và đẹp đẽ hơn.


Mọi ý kiến và đóng góp bài vở, xin vui lòng gửi về: [email protected]