Khải thư, hay cũng gọi là Chính thư, Chân thư được sáng tạo vào thời Đông Hán. Trong “Tuyên hòa thư phổ” có ghi chép: “Vào đầu triều Hán có học giả Vương Thứ Trọng, từ Lệ thư sáng tạo ra Khải thư”. Đời Thanh có thư pháp gia Ông Phương Cang cũng nói: “Đổi lối sóng họa (nét uốn cong cong giống sóng nước) của chữ Lệ, điểm thêm những nét chấm hất, giữ nguyên nét ngang của Lệ thư”. Vì thế mà Khải thư được biết tới là lối viết biến hóa của Lệ thư cổ đại. Khải thư có hình thể vuông và ngay ngắn, bút họa đơn giản thoải mái, có thể được dùng làm khuôn mẫu, cho nên có tên là Khải thư.

Khải thư tứ đại gia là tên hợp xưng của bốn vị thư pháp gia nổi tiếng trong lịch sử thư pháp Trung Hoa. Họ còn được gọi là Tứ đại Khải thư , Khải thư tứ thể gồm có Âu Dương Tuân triều Đường (Âu thể), Nhan Chân Khanh triều Đường (Nhan thể), Liễu Công Quyền triều Đường (Liễu thể), và Triệu Mạnh Phủ triều Nguyên (Triệu thể).

Âu Dương Tuân (557 – 641), tự là Tín Bản, sinh ra ở Hoành Châu (nay là Hoành Dương), quê cha ở Đàm Châu, Lâm Tương (nay là Trường Sa, Hồ Nam). Lúc ông 13 tuổi, cha ông là Âu Dương Hột phạm tội với triều đình nên bị tịch thu toàn bộ tài sản và xử chém cả nhà; ông nhờ việc ẩn núp mà trốn thoát. Sau đó cả nhà dựa vào người bạn tốt của cha ông là Giang Tổng, ở tại Kiến Khang (nay là Nam Kinh).

Giang Tổng thấy Âu Dương Tuân gầy gò ốm yếu, không cách nào bồi dưỡng thành võ tướng, nên không còn cách nào khác là cho ông đi học viết chữ. Không ngờ rằng Âu Dương Tuân vô cùng thông minh, có thể đọc nhanh như gió, lúc còn nhỏ tuổi đã thông kim bác cổ, tinh thông Tam sử:  Sử ký, Hán thư và Đông quan Hán ký. Sau đó, Âu Dương Tuân được làm chức quan ‘Thái thường bác sỹ’ ở triều Tùy, đến triều Đường được phong làm Thái Tử Suất Canh Lệnh, nên ông cũng hay được gọi là “Âu Dương Suất Canh”. Bởi vì con của Âu Dương Tuân là Âu Dương Thông cũng am hiểu thư pháp, cho nên Âu Dương Tuân lại được xưng là “Đại Âu”.

Âu Dương Tuân chẳng những chăm học lại bác thông kinh sử, hết mực say mê thư pháp. Thư pháp của ông vào đầu thời nhà Tùy đã có tiếng tăm vang xa. Sau khi bước chân vào triều Đường, lại là bậc tiên sinh trong giới thư pháp nhưng Âu Dương Tuân vẫn không lấy những thành tựu kia làm sự thỏa mãn, ông vẫn luôn trau dồi, đã tốt còn muốn tốt hơn nữa.

Có một lần, Âu Dương Tuân cưỡi ngựa đi dạo, thấy ven đường giữa đám cỏ dại có một bia đá, liền xuống ngựa xem xét. Hóa ra trên bia đá là bút pháp của thư pháp gia nổi tiếng thời Tây Tấn tên Sách Tĩnh. Ông liền đứng một lúc lâu quan sát tỉ mỉ cẩn thận rồi mới rời đi, nhưng vừa đi mấy bước, lại không kìm được mà xuống ngựa thưởng thức, khen ngợi tới lui mấy lần.

Cuối cùng, Âu Dương Tuân quyết định trải thảm ngồi luôn ba ngày ba đêm, tính toán đo đạc chữ viết trên bia, thể hội hết tinh túy trong bút pháp đó rồi mới an lòng rời đi.

thể chữ khải của âu dương tuân
Bốc thương thiếp của Âu Dương Tuân. (Ảnh: Phạm vi công cộng)

Khuôn mẫu thư pháp cho hậu thế

Khải thư của Âu Dương Tuân đạt đến trình độ vô cùng nghiêm ngặt, bút lực cao và hiểm, thế nhân không người nào sánh kịp. Thể chữ Chính Khải của Âu Dương Tuân cũng xuất phát từ Lệ thư cổ đại, lấy thể chữ của Nhị Vương (2 cha con Vương Hy Chi và Vương Hiến Chi), đã dung hợp đặc điểm của thể chữ Lệ thời Hán ‘Hán Lệ’ với Khải thư thời Tấn, cũng lấy phong cách thư pháp của Bắc phái lục triều, kết thành một thể chữ đặc biệt, khai phá một con đường mới, tự tạo thành một thể riêng.

Đặc điểm trong thư pháp của ông là cầm bút mạnh mẽ ‘cương kình’, nét bút vuông vức chỉnh tề, nét kết thúc chữ (thu bút) vô cùng sáng sủa và thư thái. Người đời sau luôn lấy nét chữ vuông vắn của ông làm mẫu (Bình chính trung kiến hiểm tuyệt), người đi học truyền đời danh xưng “Âu thể” (thể chữ của Âu Dương Tuân). Nhà lý luận Thư học Bao Thế Thần đời Thanh từng nói: “Âu tự chỉ pháp trầm thực, lực quán hào đoan, bát diện sung mãn, canh vô giả ư ngoại trợ cố dã.” Ý là nói thể chữ Âu khải rất có cốt cách, cường điệu chỉ lực, nét bút viết ra rất chắc chắn và có lực, cốt khí nội hàm, nặng nhẹ vừa vặn, dài ngắn thích hợp, vừa vặn không sai chạy, được các nhà Thư pháp  đời sau lấy làm khuôn mẫu. 

Thành tựu thư pháp của Âu Dương Tuân chủ yếu nằm ở Khải thư, nhưng ở lối Lệ thư và các lối viết khác ông cũng đều có thành tựu. Thư pháp gia nổi tiếng nhà Đường Trương Hoài Quán có bình phẩm trong cuốn “Thư đoạn” như sau: “Tám thể chữ của Âu Dương Tuân đều rất thành thục, bút lực cứng và hiểm. Thể chữ Triện thì ưu tú tinh xảo, có một không hai, sánh vai cùng cổ nhân, “nhiễu long xà chiến đấu chi tượng”, “vân vụ khinh lung chi thế”, “kỷ toàn lôi kích”, “thao cử nhược thần”. Thể chữ Khải và chữ Hành siêu xuất khỏi thái lệnh, trở thành một thể riêng biệt, “Sâm sâm yên nhược võ khố mâu kích”, “phong thần nghiêm ư trí vĩnh”, trau chuốt như nhà Thư pháp Ngu Thế Nam.

Bia khắc “Cửu Thành cung lễ tuyền minh”

thể chữ khải của âu dương tuân
Bia khắc “Cửu Thành cung lễ tuyền minh”. (Ảnh: Phạm vi công cộng)

Âu Dương Tuân sống trong thời kỳ Đường Trinh Quan (626 – 649), qua đời ở tuổi 80, để lại các minh chứng cho nghệ thuật thư pháp Trung Hoa. Ví dụ như “Bốc thương thiếp”, “Trương Hàn thiếp”.v.v..  bia khắc “Cửu Thành cung lễ tuyền minh”, “Hoàng phủ đản bi” v.v.  đều được xưng là bảo vật của nghệ thuật Thư pháp. Trong đó “Cửu Thành cung lễ tuyền minh” là tác phẩm được hoàn thành khi Âu Dương Tuân 75 tuổi, cũng là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông. Thời Nguyên, Triệu Mạnh Phủ từng bình về tác phẩm này là: “Thanh hòa tú kiện, cổ kim một người”.

Chữ khắc trên bia do Ngụy Trưng soạn thảo, ghi lại cố sự Đường Thái Tông khi nằm nghỉ mát ở Cửu Thành cung phát hiện ra một dòng suối. Âu Dương Tuân phụng lệnh Hoàng Thượng, viết chữ lên trên bia đá. Thư pháp trên bia được viết vô cùng thận trọng, nghiêm ngặt, cao quý trang trọng, bút họa vừa tròn vừa vuông, kết cấu bố trí tinh tế, toàn thể vô cùng đoan trang, không một chỗ rối loạn, nên được người đời coi là “Quy phạm của Khải thư” là khuôn mẫu Khải thư cho người học viết thư pháp các thế hệ về sau .Triệu Hàm thời minh trong tác phẩm “Thạch mặc tuyên hoa” đã khen ngợi tấm bia ký này là “Đệ nhất chính thư”.

Âu Dương Tuân không chỉ là nhất đại thư pháp gia , mà còn là một nhà lý luận thư pháp, Trong thực tiễn viết Thư pháp thời gian dài ông tổng kết ra 8 phương pháp luyện viết chữ là: Như cao phong chi truỵ thạch” (thế bút hiểm như mõm đá trên núi cao), “tự trường không chi sơ nguyệt” (tựa như trăng non mới mọc giữa không gian thoáng đãng), “nhược thiên lý chi trận vân” (cuồn cuộn thăm thẳm như mây mù ngàn dặm), “như vạn tuế chi khô đằng” (rắn chắc đầy sức sống như cây Khô Đằng vạn tuế), “kình tùng đảo chiết” (kiên cường dẻo dai như cây tùng cây bách), “lạc quải thạch nhai” (dứt khoát gọn gàng như mõm đá hùng vỹ), “như vạn quân chi nỗ phát” (nhất tề bung phát như một cái tung ra hàng vạn móc câu), “lợi kiếm tiệt đoạn tê” (sắc bén như thanh kiếm một phát chặt đứt sừng tê giác), “tượng chi giác nha” (đẹp đẽ nõn nà như ngà voi vậy), “nhất ba thường tam quá bút” (uyển nhất ba thường tam quá bút như sóng ba đào).

Âu Dương Tuân cũng soạn những cuốn sách như “Truyện thụ quyết”, “Dụng bút luận”, “Bát quyết”, “Tam thập lục pháp” v.v. nói tương đối cụ thể về cách dùng bút, kết cấu thể chữ, kỹ xảo hài hòa mỹ học thư pháp. Đây đều là những di sản trân quý liên quan đến lý luận thư pháp Trung Hoa.

Danh tiếng vang xa trong ngoài 

Theo ghi chép lại của lịch sử, ngoại hình của Âu Dương Tuân không được tuấn tú cho lắm, nhưng lại được Đường Cao Tổ Lý Uyển và Đường Thái Tông Lý Thế Dân vô cùng coi trọng. Đường Thái Tông vào năm Trinh Quán nguyên niên tại “Hoành văn quán” đã  triệu tập 24 con cháu quan ngũ phẩm trở lên, cho theo học Khải thư của Âu Dương Tuân, sau đó phong cho Ngu Thế Nam, Âu Dương Tuân là Giáo thụ Khải pháp.

Thư pháp của ông luôn được mọi người thời bấy giờ coi là báu vật, danh tiếng vang xa tận ngoại quốc. Nhiều người tranh nhau muốn được ông viết cho một chữ, coi đó lấy làm gốc căn bản để học thư pháp.

Trong thời kỳ Đường Võ Đức (tức năm 618 – 624), Cao Ly (hiện là Tiều Tiên) đặc biệt phái sứ giả tới thành Trường An cầu thư pháp của Âu Dương Tuân. Đường Cao Tổ Lý Uyển cảm động mà nói: “Ta không nghĩ danh tiếng của Âu Dương Tuân lại lớn đến thế. Bọn họ thấy bút tích của Âu Dương Tuân nhất định cho rằng hắn có tướng mạo khôi ngô đây!” Thậm chí, người tu luyện môn Thiên Thai Tông thuộc Phật giáo bên Nhật Bản khi du học từ Đường triều quay trở về cũng mang theo thư pháp của Âu Dương Tuân.

Cho tới bây giờ, một trong những tờ báo lớn nhất được sáng lập hơn trăm năm qua ở Nhật Bản  là tờ “Triêu nhật tân văn” (tên tiếng Anh là The Asahi Shimbun), thì 4 chữ Hán 朝日新聞 – tên của tờ báo chính là lấy từ mẫu chữ khắc trên bia của Âu Dương Tuân. Trong đó có chữ “Tân”「新」 hình  thành là lấy chữ “Thân”「親」đem bỏ đi bộ phận bên phải,  rồi lấy chữ “Tích”「析」bỏ đi bộ phận bên trái sau đó hợp nhất lại mà tạo thành chữ  “Tân”「新」 (Thân 亲 + Cân 斤 = Tân 新).

Nguồn tham khảo: 

  • “ Tân Đường thư ”
  • “ Đại Đường tông thánh quan ký ”

Trịnh Chi Phân
Học Hải biên dịch
Q úy vị tham khảo bản gốc từ Epoch Times Hoa ngữ

Xem thêm:

Với 22 ngôn ngữ, Epoch Times là một kênh truyền thông Mỹ độc lập theo nguyên tắc Sự Thật và Truyền Thống. Thông qua những bài báo trung thực, cung cấp sự thật và làm sáng tỏ những vấn đề xã hội quan trọng, Epoch Times mong muốn gửi đến Quý độc giả những giá trị nhân văn của sự chính trực, lương thiện, lòng trắc ẩn, hay những bài học quý giá từ lịch sử, đồng thời tôn vinh các giá trị phổ quát của nhân loại.

Rất mong nhận được sự ủng hộ và đồng hành của Quý độc giả thông qua việc chia sẻ, lan tỏa các bài viết đến với cộng đồng. Epoch Times tin rằng đây là cách để chúng ta cùng kiến tạo tương lai, đi tới một đại kỷ nguyên mới huy hoàng và đẹp đẽ hơn.


Mọi ý kiến và đóng góp bài vở, xin vui lòng gửi về: [email protected]