Từ trước tới nay, sô cô la – “món quà của Thần linh” –  được cho là biểu tượng của phú quý. Vào thế kỷ 14, người Aztec và người Maya thậm chí còn sử dụng cacao như một loại  tiền tệ. Không những vậy, các nghiên cứu còn chỉ ra rằng sô cô la cũng mang tới khá nhiều lợi ích cho sức khỏe, đủ để khiến bạn chùn lòng trước những chế phẩm sô cô la sữa ngọt công nghiệp.

Sô cô la được biết đến như một trong những đồ ăn được ưa thích nhất trên thế giới. Thanh sô cô la đầu tiên, được làm từ bơ ca cao, bột ca cao và đường, được giới thiệu bởi công ty sô cô la Anh Quốc- J.S. Fry & Sons vào năm 1847, nhưng lịch sử của nó đã có từ ít nhất 4.000 năm trước.

Từ năm 1900 trước Công nguyên, các nền văn hóa tiền Olmec của Mexico đã sản xuất sô cô la. Ban đầu, nó được tiêu thụ như một loại đồ uống có vị đắng. Hạt cacao được lên men, rang chín, sau đó được xay nhuyễn thành hỗn hợp sệt trộn với nước và các loại gia vị khác như ớt hay vani, và được làm ngọt với mật ong.

Hạt ca cao thô: sự lựa chọn tốt nhất.

Các bộ tộc Olmecs, Maya và Aztec rất quí cacao nhờ khả năng cải thiện tâm trạng cũng như tăng khả năng sinh lý mà nó mang lại. Cacao cũng chỉ được dành cho giới thượng lưu.

Vào thế kỷ 17, cacao và sô cô la đã được coi như là một loại thuốc;  các ghi chép bấy giờ tại Châu Âu cho biết người ta đã sử dụng chúng để điều trị chứng đau thắt ngực và đau tim.

Không phải tất cả các loại sô cô la đều như nhau

Cacao thô rất đắng vì thành phần có gần 400 hợp chất polyphenol. Lợi ích sức khỏe mà chúng ta đang nhắc tới là về loại sô cô la thô này.

Ước tính mỗi công dân Mỹ tiêu thụ trung bình 12 pound sô cô la mỗi năm.Thật không may, lượng lớn tiêu thụ đó lại là các chế phẩm kẹo sô cô la chỉ chứa một lượng rất nhỏ cacao và rất nhiều đường. Các phụ gia từ sữa này sẽ cản trở cơ thể bạn hấp thụ các chất chống oxy hóa có lợi (polyphenol) trong sô cô la.

Lợi ích tuyệt vời của sô cô la đen
Dâu tây nhúng sô cô la và hộp sô cô la hình trái tim (Joe Raedle / Getty Images)

Thuật ngữ về sô cô la

Để phân biệt rõ, chúng ta hãy cùng tìm hiểu sự khác biệt giữa cacao/ cocoa/ sô cô la:

  • Cacao: Chỉ một loài thực vật, một loại cây nhỏ thuộc loài Theobroma. Hạt khô của cây này còn được gọi là hạt cacao, chưa qua chế biến.

Nếu bạn quan tâm đến các lợi ích sức khỏe, thì các loại hạt cacao thô chính là thứ mà bạn đang tìm kiếm. Tốt nhất, hãy mua cacao nguyên hạt và tự mình xây nhỏ chúng (có thể sử dụng máy xay cà phê) trước khi chế biến.

Ngoài ra, bạn có thể ăn cả hạt, giống như sô cô la chip thông thường. Từ ½ đến 1 ounce mỗi ngày là vừa đủ. Bạn cũng có thể xay nhuyễn 1 muỗng cacao nguyên chất hai lần một ngày và thưởng thức cùng sinh tố.

  • Cocoa : Là hạt cacao đã được rang chín, rồi xay mịn thành bột (với hầu hết chất béo đã được loại bỏ).
  • Bơ ca cao: Là chất béo trong hạt ca cao thô.
  • Sô cô la: Chế phẩm được làm từ hạt cacao rang chín ; nếu hạt cacao được sử dụng còn sống thì đó “sô cô la thô”.

Khi chọn mua sô cô la, hãy tìm các sản phẩm chứa  ít đường và nhiều cacao hơn. Thông thường sô cô la càng sẫm màu thì hàm lượng cacao bên trong lại càng cao.

Tuy nhiên vì cacao thô mang vị đắng, nên tỷ lệ cacao càng cao thì sô cô la càng đắng . Hợp chất polyphenol chính là nguyên nhân làm cho sôcôla có vị đắng, vì thế mà các nhà sản xuất thường loại bỏ chúng. Tuy nhiên, chính những polyphenol này lại là nguồn gốc các lợi ích sức khỏe của sô cô la.

Để giảm thiểu vị đắng, hầu hết sô cô la khi sản xuất đều  được thêm đường để  cân bằng giữa vị giác và dinh dưỡng. Để có lợi cho sức khỏe, hãy lựa chọn loại sô cô la có tối thiểu 70% cacao.

  • “Sô cô la trắng” : hoàn toàn không chứa cacao ; nó chỉ là một hỗn hợp gồm đường và sữa tươi.

Ca cao chứa hàng trăm hoạt chất cải thiện sức khỏe

Các hoạt chất tự nhiên có chứa trong hạt cacao bao gồm: epicatechin (một loại flavonoid) và resveratrol- được cho là chất chống oxy hóa và chống viêm mạnh mẽ, giúp bảo vệ các tế bào thần kinh.

Resveratrol- một chất chống oxy hóa mạnh có trong cacao, được biết đến với tác dụng bảo vệ hệ thần kinh. Resveratrol có thể vượt qua hàng rào máu não, cho phép nó làm giảm tình trạng viêm của hệ thần kinh trung ương.

Điều này rất quan trọng vì chứng viêm hệ thần kinh trung ương đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của các bệnh thoái hóa thần kinh.

Các nghiên cứu khoa học gần đây cho thấy “resveratrol”  có chứa trong cacao đóng vai trò tương tự như chất được tiết ra khi chúng ta tập thể dục, bằng cách kích thích AMPK và PKC-1alpha làm tăng quá trình sản sinh ty thể.

Cacao có lợi cho hệ tim mạch, não  bộ và  hệ thần kinh trung ương

Giáo sư y khoa tại Đại học Harvard-Norman Hollenberg, người đã dành nhiều năm nghiên cứu về người Kuna sống tại Panama (những người tiêu thụ tới 40 cốc cacao mỗi tuần) cho rằng hợp chất epicatechin quan trọng tới nỗi cũng nên được coi như một loại vitamin.

Người Kuna có dưới 10% nguy cơ đột quỵ, suy tim, ung thư và tiểu đường vốn là những căn bệnh phổ biến nhất đang hoành hành ở các nước phương Tây.

Thật vậy, nhiều nghiên cứu đã xác nhận lợi ích của cacao lên hệ tim mạch , não bộ và hệ thần kinh trung ương ; đồng thời giúp chống lại bệnh tiểu đường cùng các bệnh lý viêm sưng khác.

  • Một phân tích tổng hợp năm 2012 cho thấy ăn sô cô la có thể giảm 37% nguy cơ mắc bệnh tim mạch và 29% nguy cơ đột quỵ.
  • Một phân tích tổng hợp khác được công bố cùng năm đó cho thấy ca cao / sô cô la làm giảm kháng insulin, giảm huyết áp, tăng độ đàn hồi của mạch máu và giảm nhẹ LDL.
  • Trong một nghiên cứu khác, những bệnh nhân tiêu thụ 100 gam sô cô la đen giàu flavanol trong 15 ngày cho thấy tình trạng giảm đề kháng insulin.
  • Theo một bài báo được xuất bản trên tạp chí Oxidative Medicine and Cellular Longevity,, các polyphenol trong ca cao có thể có những lợi ích cụ thể đối với các bệnh tim mạch và viêm nhiễm, rối loạn chuyển hóa và ngăn ngừa ung thư. Thông điệp từ tác giả bài báo như sau:

“Ca cao chứa khoảng 380 hoạt chất được biết tới, 10 trong số đó là các hợp chất có khả năng tác động đến thần kinh… Ca cao có nhiều phenol hơn cùng khả năng chống oxy hóa cao hơn trà xanh, trà đen hoặc rượu vang đỏ… Các phenol từ ca cao có thể bảo vệ cơ thể chống lại/ góp phần suy giảm nguy cơ mắc  các bệnh lý liên quan tới oxy hóa liên quan, chẳng hạn như ung thư. Chúng cũng có tác dụng chống tăng sinh, chống nhiễm trùng và bảo vệ hóa học, ngoài tác dụng chống dị ứng.”

Joseph Mercola
Gia Tuệ biên dịch

Xem thêm:

Với 22 ngôn ngữ, Epoch Times là một kênh truyền thông Mỹ độc lập theo nguyên tắc Sự Thật và Truyền Thống. Thông qua những bài báo trung thực, cung cấp sự thật và làm sáng tỏ những vấn đề xã hội quan trọng, Epoch Times mong muốn gửi đến Quý độc giả những giá trị nhân văn của sự chính trực, lương thiện, lòng trắc ẩn, hay những bài học quý giá từ lịch sử, đồng thời tôn vinh các giá trị phổ quát của nhân loại.

Rất mong nhận được sự ủng hộ và đồng hành của Quý độc giả thông qua việc chia sẻ, lan tỏa các bài viết đến với cộng đồng. Epoch Times tin rằng đây là cách để chúng ta cùng kiến tạo tương lai, đi tới một đại kỷ nguyên mới huy hoàng và đẹp đẽ hơn.


Mọi ý kiến và đóng góp bài vở, xin vui lòng gửi về: [email protected]