Thời vua Lê Thánh Tông nổi tiếng với các chiến công mở rộng lãnh thổ và bắt lân bang quy phục. Bên cạnh đó, ý thức bảo vệ lãnh thổ của vua Lê Thánh Tông còn ghi trong sử sách như một lời răn dạy cho hậu thế về sự quan trọng của việc giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ.

“Quý Tỵ, Hồng Đức năm thứ 4 [1473], (Minh Thành Hóa năm thứ 9)

Mùa hạ, tháng 4. Vua dụ bọn thái bảo Kiến Dương bá Lê Cảnh Huy rằng: Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di.” (Đại Việt sử ký toàn thư)

Những chiến dịch của ông đều thành công không chỉ nhờ vào chiến pháp mà còn nhờ sự chuẩn bị chu đáo trong mọi mặt của quân đội. Bước đầu là rèn tập binh sĩ, củng cố quốc phòng từ căn bản cho đến các quy định dành cho tướng sĩ, bảo đảm quân đội luôn trong tư thế sẵn sàng.

“Ất Dậu, [Quang Thuận] năm thứ 6 [1465], (Minh Hiến Tông Kiến Nhu Thành Hóa năm thứ 1) Ban hành phép duyệt tập trận đồ thủy bộ:

Về thủy trận thì có những đồ pháp như: Trung hư, Thường sơn xà, Mãn thiên tinh, Nhạn hàng, Liên châu, Ngư đội, Tam tài hành, Thất môn, Yển nguyệt.
(Chú thích: Trung hư: có nghĩa là trống giữa, Thường sơn xà: rắn Thường sơn, Mãn thiên tinh: sao đầy trời, Nhạn hàng: chim nhạn bay sóng hàng, Liên châu: chuỗi hạt châu, Ngư đội: đàn cá., Tam tài hành: trời, đất, người là tam tài, Thất môn: bảy cửa, Yển nguyệt: trăng khuyết)

Về bộ trận thì có những đồ pháp như: Trương cơ, Tương kích, Kỳ binh. Lại ban 31 điều quân lệnh về thủy trận, 22 điều về tượng trận, 27 điều về mã trận, 42 điều về kinh vệ bộ trận.

Vua lại dụ các Tổng quản, Tổng tri các vệ quân năm đạo và quân các phủ trấn rằng:

“Hễ có quốc gia là phải có võ bị. Những lúc rỗi việc làm ruộng, phải ngừng những việc không cần kíp, cứ ngày rằm hàng tháng, thì vào phiên để điểm mục, liệu cắt quân nhân vào những việc như giữ cửa nhà, điếm canh, kiếm cỏ lợp nhà, nuôi voi… Còn thì trước đó một, hai ngày, phải theo các trận đồ nhà nước ban xuống, ở ngay địa phận của vệ mình đóng, tiến hành chỉnh đốn đội ngũ, dạy quân lính những phép ngồi, đứng, tiến, lui, tập nghe những tiếng hiệu lệnh chiêng trống, cho quân lính quen với cung tên, không quên việc võ bị. Đến ngày thứ tư trở đi, mới sai làm tạp dịch. Nếu quan nào không biết để tâm răn dạy, rèn tập quân lính, dám sai chúng làm các việc tạp nhiễu thì cứ xử biếm chức hoặc bãi chức.” (Đại Việt sử ký toàn thư)

Và kết quả của sự chuẩn bị trường kỳ đó là những chiến công vang dội khi tung quân sĩ bình định bốn phương; đến tận ngày nay sau hơn 500 năm, vẫn chưa lần nào quân đội Đại Việt lập lại kỳ tích như thế:

“Kỷ Hợi, [Hồng Đức] năm thứ 10 [1479]

Tháng 8, ngày 23, sai tướng thần đem 18 vạn quân, chia làm 5 đường đi đánh Ai Lao, Bồn Man và Lão Qua, đều phá tan cả. Phò mã đô úy Đông quân đô đốc phủ chưởng phủ sự Đoan Vũ hầu Trịnh Công Lộ làm Chinh Di tướng quân, đeo ấn tướng quân. Đô đốc đồng tri Lê Vĩnh làm Chinh Di phó tướng quân và Tổng bình đồng tri là bọn Nguyễn Lộng dẫn quân kiên dũng các vệ Minh Nghị, Quảng Vũ, Ngọc Kiềm, Anh Đức, Phấn Uy thuộc Đông quân, gồm 2.000 người, theo đường An Tây tiến đánh Ai Lao. Du kỵ phó tướng quân Lê Lộng và Thổ binh tham tướng Đinh Thế Nghiêu đều dưới quyền chỉ huy. Sai Chinh Tây tướng quân Sùng quận công Lê Thọ Vực đem quân đi theo đường chính Trà Lân, chỉ huy các doanh du kích, đánh Ai Lao và Bồn Man. Sai Trấn Lỗ tướng quân Lê Đình Ngạn chỉ huy các doanh hoành dã từ đường Ngọc Ma tiến sang để đón chặn đường giặc chạy. Du kỵ phó tướng quân là bọn Lê Lộng tiến theo đường châu Thuận Mỗi để chẹn yết hầu giặc. Thảo tặc phó tướng quân là bọn Lê Nhân Hiếu thì theo đường Phủ Thanh Đô mà đánh vào chỗ sơ hở của giặc. Năm đạo quân cùng hợp đồng đánh Ai Lao, phá tan bọn chúng, vào thành Lão Qua, tịch thu của cải châu báu. Quốc vương nước ấy chạy trốn. Ta bắt sống dân chúng, chiếm lấy đất đai, đến tận sông Trường Sa, giáp biên giới phía nam nước Miến Điện, nhận được thư của nước Miến Điện, thắng trận trở về.” (Đại Việt sử ký toàn thư)

Lời bàn:

Đại tượng truyện phần quẻ Càn và Khôn có 2 câu như sau:

“Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức
Địa thế khôn, quân tử dĩ hậu đức tải vật”
(Cơ Trời vận động mạnh mẽ, quân tử theo đó mà tự mình trở nên mạnh mẽ không ngừng; Thế Đất là thuận theo, người quân tử lấy đức dày bao dung vạn vật)

Phàm là vua chúa ở đời muốn làm nên kỳ công vĩ tích lưu danh thiên cổ, ắt phải thuận theo Thiên đạo mà hành sự. Trong đó người lãnh đạo bản thân phải luôn tự lực tự cường, theo đạo của Trời (Càn) và tu dưỡng đạo đức theo Đất (Khôn) để canh tân quốc gia. Lê Thánh Tông chính là đã thực thi nghiêm túc theo hai câu trên và đem đến kết quả đáng kinh ngạc. Đại Việt thời Lê Thánh Tông hùng bá Đông Nam Á, Nam chinh bình định Chiêm Thành, Tây chinh đánh tan Lão Qua, Vạn Tượng, Ayutthaya đến tận Miến Điện. Binh uy lừng lẫy, hễ đánh là thắng; cả nhà Minh cũng không dám vọng động. 500 năm đã qua đi cũng chưa lúc nào nước ta vượt qua được những thành tựu lừng lẫy như thời này. Trong thế kỷ 21, bàn đến giấc mộng phú quốc cường binh của Đại Việt, phải chăng các nhà lãnh đạo nên học thêm về cách làm của tổ tiên?

Các chính sách trị quốc hiệu quả thời vua Lê Thánh Tông

Thời vua Lê Thánh Tông là một thời đại thịnh trị bậc nhất trong lịch sử. Có được kết quả này là nhờ một loạt các chính sách hợp lý bao quát trong xã hội do vua Lê Thánh Tông đưa ra. Có thể kể đến một số chính sách như sau:

Khuyến khích nông nghiệp, cấm lạm dụng tửu sắc:

“Quý Tỵ, Hồng Đức năm thứ 4 [1473], (Minh Thành Hóa năm thứ 9). Mùa xuân, tháng giêng, vua thân hành cày tịch điền và đốc suất các quan cày.

Cử hành lễ Giao. Cấm tửu sắc. Ra sắc chỉ cho quan viên và trăm họ rằng: Kể từ nay, trong nhà không làm cỗ thết khách thì không được chè chén; người vợ không phạm tội thì không được ruồng bỏ. Kẻ nào dám rượu chè bừa bãi, gia đạo không nghiêm, kẻ nào không có mối lái mà dám vụng trộm tư thông thì phải trị tội.” (Đại Việt sử ký toàn thư)

Bản thân vua Lê Thánh Tông không những là người tinh thông Lý số, thuật nhìn người mà ông còn đưa ra những chính sách khuyến khích tiến cử nhân tài rất hiệu quả.

“Đinh Hợi, [Quang Thuận] năm thứ 8 [1467], (Minh Thành Hóa năm thứ 3)

Sai triều thần tiến cử chức quan huyện cương trực biết trị kẻ gian tà, mỗi người một

cử viên. Lại bộ thượng thư Nguyễn Như Đổ đưa 8 người thế gia thân quen là bọn Nguyễn Thế Mỹ ra để vua chọn. Vua cho rằng họ là bọn mới lên, tài năng bình thường. Hôm sau lại sai cử 10 người đang giữ các chức trách trong kinh. Thái bảo Lê Niệm cử Lương Thế Vinh, Đô đốc Trịnh Văn Sái cử Hộ khoa cấp sự trung Đặng Thục Giáo, thượng thư Trần Phòng cử Thượng bảo tự khanh Dương Tông Hải, đều là những người mình biết. Vua xem tờ tâu, phần nhiều là những người có chức, bèn loại bỏ họ tên của bọn Lương Thế Vinh, chỉ để lại Giáo thụ Nguyễn Nhân Tùy, Huyện quan Đinh Bô Cương trong diện xét chọn và phê rằng: ‘Lục bộ, Lục khoa và Ngự sử đài mà tiến cử bậy thì chịu tội giáng hay bãi chức. Néu tiến cử được người giỏi thì nhất định sẽ được trọng thưởng.’

Sai nội quan đưa cho đình thần xem, không ai không kinh hãi vì vua xét người rất sáng suốt.” (Đại Việt sử ký toàn thư)

Ngay cả những việc tư pháp xử án cũng được nhà vua quan tâm.

“Ất Dậu, [Quang Thuận] năm thứ 6 [1465], (Minh Hiến Tông Kiến Nhu Thành Hóa năm thứ 1)

Ra lệnh chỉ cho các quan nắm việc kiện tụng rằng: Nên xét định ngay các đại phu ở Ngũ hình viện, người nào xử kiện không có oan uổng thì ghi thành một hạng, người nào bình thường ghi thành một hạng, người nào hèn kém thì ghi thành một hạng, tâu trình lên. Hạng không có oan uổng thì khen thưởng, hạng bình thường thì giữ lại làm việc, hạng hèn kém thì bổ chức Chuyển vận.” (Đại Việt sử ký toàn thư)

Lời bàn:

Trên ngai vàng của hoàng đế nhà Thanh ở Tử Cấm Thành Bắc Kinh có treo một tấm biển đề 4 chữ “Chính Đại Quang Minh” được xem là chuẩn mực hành xử của các hoàng đế cầm quyền để có thể trị vì thành công. Nếu hoàng đế muốn sự nghiệp của mình to lớn đường hoàng “Chính Đại” thì các chính sách của ông phải “Quang Minh” nghĩa là rõ ràng minh bạch và hiệu quả để có thể phát triển đất nước. Mà sự “Quang Minh” chỉ có thể đến từ một trí óc minh mẫn do sự chuyên cần tu dưỡng tâm thân mà ra. Thế mới thấy những lý thuyết “tu thân” rồi mới “tề gia” “trị quốc” của Nho gia quả là vô cùng chính xác và sâu sắc thay. 

Minh Bảo