Năm ấy vừa được nghỉ tết, Khôi và Tân phải đi vẽ ở miền thượng-du theo sông Đa-giang (Rivière Noire).

Phong-cảnh mạn ngược quyến rũ hai nhà nghệ-sĩ, vì những lúc này tiết trời khô ráo, cảnh sắc rất nên thơ.

Còn gì sung-sướng bằng khi ngòi bút mĩ-thuật được hoạ những cảnh thiên-nhiên kỳ-diệu? Những dải núi liên-tiếp nhau, nhỏn cao, nhỏn thấp, phơi dưới ánh sáng mặt trời rực thành muôn ngàn màu-sắc xinh tươi, êm-dịu. Nhiều cây trơ trụi cành lá đứng sững giữa đồi. Những cây đại-mộc hoa lá sum-sê đủ các hình, các kiểu. Những cây leo vắt từ cành này qua cành khác uốn thành cửa võng hay thõng xuống như chăng hoa trông rất ngoạn-mục. Dòng sông chảy quanh co như lượn theo chân núi như con rắn bạc lớn uống mình theo nhịp đàn muôn điệu của giọng thông reo, làn sóng vỗ. Bên sườn non một vài cô “Mán” lặng-lẽ đếm bước dưới hàng cây to hay đi cheo-leo trên những tảng đá lớn khác nào những chấm bút tuyệt-diệu rung-rinh trên bức tranh thiên-nhiên, mênh-mông, bát-ngát.

Tân ở lại “bản” dưới để vẽ các giống người ở vùng đó, còn Khôi ngược thuyền lên “Mường” trên tìm vẽ phong cảnh.

Hai mươi chín tháng chạp. Khôi còn phải đến ở trọ nhà cụ Hai người kinh buôn bán trên này. Cụ giới-thiệu với Khôi cậu Lý, con giai cụ, bằng tuổi Khôi và Kiều-Minh, con gái cụ, đã theo học mấy năm ở Hà Nội, nhưng nhà vắng cụ bắt về giúp cụ buôn bán. Lúc đầu họ còn bỡ ngỡ, nhưng sau chuyện trò mỗi lúc mỗi thêm thân-mật.

Sáng hôm sau, Khôi ra rừng tìm chỗ vẽ. Buổi trưa hôm đó Khôi ở lại ngoài rừng,  đi về thêm mệt và mất thì-giờ.

Chiều tối, Khôi mới về, thấy bàn ghế đã bày đặt lại : một cành đào to cắn giữa nhà trên bàn thờ, khói hương sực nức, bà cụ và hai con đương kính cẩn cầu lễ.

Một phút yên lặng đầy sự thành-kính. Khôi bồi-hồi nhớ đến quê nhà mà giờ này cũng đèn nhang nghi-ngút. ÔI ! ngày tết có bao ý-nghĩa thiêng-liêng, phải chăng là ngày hội-họp của mỗi gia-đình  và tỏ lòng thành kính, ghi nhớ tiên-tổ?

Một tràng pháo giao-thừa đì-đẹt ở nhà bên cạnh báo tin xuân đã đến. Khôi choàng dậy với những bâng-khuâng ở quê người.

Trong “bản”, tiếng cồng pha tiếng trống vang động cả một góc rừng. Theo lệ thường dân thổ rủ nhau đến nhà “Tào bản” để cùng ở đó thưởng xuân.

Hiếu kỳ, Khôi và Lý cũng ra đấy góp vui và xem những trò lạ. Theo tiếng đàn những cô gái cùng các bà “kỳ mục” múa hát hay bên nam bên nữ chia phe đánh còn, đánh đúm.

Hôm sau, Khôi ra rừng vẽ. Kiều-Minh và Lý cũng theo chơi.

Cảnh đẹp trời xuân biết bao hứa-hẹn. Hồn nghệ-sĩ lâng-lâng theo dõi sắc hình.

Kiều-Minh vô tình đứng tựa bên gốc cây cổ thụ đang mải ngắm làn nước suối. Khôi ngạc nhiên la lớn : “Một bức tranh, một bức tranh xuân !” Rồi Khôi yêu-cầu nàng đứng để vẽ, Khôi cầm bút phác ngay lên vải, lòng hồi hộp, tay run-run trước cảnh, trước người.

Được mấy hôm Khôi sống hoàn-toàn cho nghề : ngày vẽ, tối về lại đồ tranh lên lụa hay ngắm lại các điệu bộ và màu-sắc cho được dung-hoà.

Ngay đêm sau khi vừa vẽ xong bức tranh, Khôi được giấy cần kíp báo bạn Tân ốm. Khôi phải đi ngay trong đêm, xuôi xuống xem sự-thể ra sao. Nào ngờ Tân mệt nặng đã mấy hôm vì không quen thuỷ thổ. Khôi đành viết thơ cảm ơn và từ-giã gia-đình cụ Hai mong lại có ngày tái-ngộ.

Ngay trong đêm, Khôi đưa bạn xuôi thuyền ngay về tỉnh để chữa chạy, bỏ lại đằng sau tiếng gọi âm-âm của rừng thẳm và khí xuân ấm-áp trong gia-đình cụ Hai.

TRỊNH VÂN

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)