Tháng 8 năm 1945,

Cha tôi – một trung sĩ Lục quân, cũng là một lính bộ binh chiến đấu ở Ý – đã lên đường về Hoa Kỳ để tham gia cuộc chiến chống lại sự xâm lược của Nhật Bản. Anh trai của ông là một bác sĩ trong quân đội. Bố vợ tương lai của tôi làm việc trong quân đội ở Thái Bình Dương và cũng đang chuẩn bị cho cuộc tấn công vào nước Nhật. 

Ngày 06/08, Hoa Kỳ thả một quả bom nguyên tử xuống Hiroshima.

Ngày 08/08, Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản.

Ngày 09/08, Hoa Kỳ thả một quả bom nguyên tử xuống Nagasaki.

Ngày 15/08, Thiên hoàng Hirohito tuyên bố Nhật Bản đầu hàng quân Đồng minh.

Sau tuyên bố đó, mẹ tôi khi ấy vẫn còn là một thiếu nữ, thấy mình đang hòa vào dòng sông hoa giấy ăn mừng trên đường phố Detroit, trong niềm hân hoan vì cuối cùng chiến tranh đã kết thúc.

Ngày 02/09, đại diện của Nhật Bản đã ký vào văn bản đầu hàng trên tàu USS Missouri, Thế chiến thứ II chính thức kết thúc. 

Cuối cùng hoà bình cũng đã đến: Vào ngày 02/09/1945, Lục quân và Hải quân Hoa Kỳ trên tàu USS Missouri tổ chức lễ đầu hàng [cho quân Nhật] đánh dấu sự kết thúc của cuộc chiến với Nhật Bản. (Ảnh Three Lions/Getty Images)

Mùa hè năm nay đánh dấu kỷ niệm 75 năm kết thúc Thế chiến thứ II, nhưng ít người trong chúng ta tôn vinh chiến thắng lịch sử trước các thế lực fascist (phát-xít) và bạo quyền đó. Tâm trí chúng ta bị những mối lo lắng và khổ não hiện thời xâm chiếm. Ngoài sự hỗn loạn do đại dịch gây ra, chúng ta đang phải đối mặt với các cuộc bạo loạn ở một số thành phố và lời kêu gọi xóa bỏ nền văn hóa và Hiến pháp Hoa Kỳ. Nhiều người, bao gồm cả một số chính trị gia, đã phủ nhận tư tưởng chủ nghĩa ngoại lệ Hoa Kỳ (American exceptionalism) vốn quan niệm rằng Hoa Kỳ không giống bất kỳ quốc gia nào khác trong lịch sử thế giới. Họ cho rằng Hoa Kỳ là xấu xa, một quốc gia độc ác với một lịch sử bạo tàn mà Hiến pháp và các lý tưởng phải bị xóa bỏ hoặc thay đổi.

Họ có đúng không? Rằng Hoa Kỳ chẳng có gì đặc biệt, chẳng có gì độc đáo?

Đống đổ nát và chủ nghĩa cộng sản

Hãy trở về sự kiện tháng 8/1945 cùng những năm hậu chiến tranh và suy ngẫm.

Khi chiến tranh kết thúc, phần lớn thế giới nằm trong đống đổ nát. Quần đảo Anh tiếp tục duy trì hệ thống cấp phát lương thực trong nhiều năm. Nền kinh tế của Pháp và Ý bị san phẳng; các nhà máy đóng cửa; nhiều công dân phải sống trong cảnh nghèo đói. Những thành phố ở Đức điêu tàn vì bom đạn; Nhật Bản trở thành quốc gia của những tàn tích trong khói lửa, và người dân ban đầu đã rất khiếp sợ trước sự chiếm đóng của Hoa Kỳ. Năm 1947, Winston Churchill mô tả Âu Châu là “một đống đổ nát, một nấm mồ, một nơi sản sinh ra bệnh dịch hạch và sự thù hận.”

Một phụ nữ Đức ngồi giữa đống đổ nát của những gì còn sót lại ở Berlin sau Thế Chiến thứ II. (Ảnh Fred Ramage/Keystone/Getty)

Trong khi đó, Liên Xô, quốc gia phải hứng chịu thiệt hại hàng triệu sinh mạng quân sĩ và thường dân, đang biến Đông Âu thành một khối quốc gia cộng sản, nhốt toàn bộ các quốc gia đằng sau cái mà ngài Churchill gọi là “Bức màn sắt”. Ở Trung Quốc, Đảng Cộng sản của Mao Trạch Đông đã nắm quyền kiểm soát. Một số quốc gia như Hàn Quốc, Việt Nam, và Đức cuối cùng bị chia tách làm hai: một bên theo chủ nghĩa tư bản tự do, và bên kia theo chủ nghĩa cộng sản độc tài.

Đất nước tương phản hoàn toàn với sự điêu tàn và sự xâm lấn của chủ nghĩa cộng sản chính là Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Sự hào phóng của người dân Hoa Kỳ

Trong khi chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới đang nhắm vào việc nô dịch con người và đàn áp tự do, Hoa Kỳ đã vươn tới việc bảo tồn tự do và xây dựng lại một thế giới đã bị tàn phá bởi chiến tranh. Với hàng tỷ USD viện trợ, Kế hoạch Marshall và các chương trình khác của Hoa Kỳ đã giúp ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản phát triển ở Âu Châu, và khiến các nước như Ý và Pháp khởi động nền kinh tế trở lại.

Thay vì khiến người Đức và người Nhật phải quỳ gối, Hoa Kỳ đã phục hưng hai quốc gia này bằng cách hướng họ thành các quốc gia dân chủ và cung cấp những khoản viện trợ kinh tế khổng lồ. Cùng với nền tảng đạo đức làm việc của hai dân tộc này, Hoa Kỳ đã thành công đến mức trong vòng 20 năm, Nhật Bản và Đức đã có thể cạnh tranh về thương mại trên thế giới, phát triển công nghệ mới, và phần lớn công dân của họ có thu nhập ở mức trung lưu. Nền dân chủ đã phát triển mạnh mẽ ở cả hai quốc gia nói trên. Nhật Bản và Đức ngày nay là những biểu tượng sống động về lòng nhân từ và sự hào phóng của người dân Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ đã giúp cả Đức và Nhật Bản phục hồi. Một khu căn hộ mới ở Hiroshima, Nhật Bản, vào khoảng năm 1955. (Ảnh Three Lions/Hulton Archive/Getty Images)

Hãy giữ cho nền dân chủ tồn tại

Hoa Kỳ sau chiến tranh cũng đã viện trợ kinh tế và quân sự cho các nước khác trên thế giới. Hàn Quốc vẫn là một đất nước năng động cho đến nay là nhờ Hoa Kỳ và các đồng minh đã đánh bại âm mưu xâm lược của Bắc Triều Tiên và Trung Cộng. Trong thời gian này, Hoa Kỳ cũng hỗ trợ tài chính và các khoản khác cho những quốc gia đang gặp khó khăn để giúp họ duy trì quyền tự do, trong đó có nhiều quốc gia ở Phi Châu và Á Châu.

Sự tương phản giữa các nền dân chủ đích thực và chủ nghĩa cộng sản đã rất rõ ràng; ví dụ sinh động nhất về sự khác biệt này là thành phố Berlin. Năm 1961, chính phủ Đông Đức bắt tay với người Nga xây dựng một bức tường ngăn cách Đông và Tây Berlin, một hàng rào bê tông được dựng lên để ngăn những người tị nạn chạy trốn đến Tây Berlin tìm kiếm tự do. Ở một bên của bức tường là Đông Berlin với những đường bao quanh, những cửa hàng của chính phủ với những kệ hàng trống trơn, và khi màn đêm buông xuống, chỉ còn bóng tối và sự yên lặng. Phía bên kia là Tây Berlin với các cửa hàng và đường phố sầm uất, các nhà hàng và khách sạn cao cấp, ánh đèn rực rỡ, câu lạc bộ và quán bar.

Chúng ta cần nhớ rằng Bức tường Berlin được xây dựng để giam giữ người Đông Đức. Người Đức phía Đông Berlin leo lên Bức tường Berlin vào ngày 31/12/1989. (Ảnh Steve Eason/Hulton Archive/Getty Images)

Chủ nghĩa cấp tiến thực sự của Hoa Kỳ

Sự giàu có và tình yêu tự do này của Hoa Kỳ đến từ đâu? Tại sao Abraham Lincoln từng mô tả Hoa Kỳ là “niềm hy vọng cuối cùng lớn nhất trên Trái Đất?” Đâu là gốc rễ cho sự phồn thịnh của Hoa Kỳ, đến mức chúng ta đã có thể thúc đẩy một nửa thế giới phục hồi kinh tế sau chiến tranh? Tại sao chúng ta phải đấu tranh trường kỳ với những kẻ độc tài? Tại sao chúng ta ủng hộ nền dân chủ?

Đáp án cho những câu hỏi này được tìm thấy trong một câu duy nhất: “Chúng ta khẳng định những chân lý này là hiển nhiên, rằng mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng; họ được Tạo Hóa ban cho một số quyền tất yếu bất khả xâm phạm, trong đó có quyền được Sống, được Tự do và mưu cầu Hạnh phúc.”

Bản Tuyên ngôn Độc lập. (Ảnh Phạm vi công cộng)

Hãy giữ cho Giấc mơ sống mãi

Qua lăng kính mới, chúng ta hãy dành chút thời gian nhìn lại một quốc gia thời hậu chiến, đã không chỉ đem lại sự thịnh vượng và công bằng hơn cho công dân của mình, mà còn làm điều tương tự cho các quốc gia khác. Chúng ta hãy nhớ đến những nhà lãnh đạo của thời đại đó – những người đàn ông như Harry Truman, George C. Marshall, Douglas MacArthur, và Dwight Eisenhower – tất cả đều tin vào Giấc mơ tự do của Hoa Kỳ và sự thịnh vượng của nó.

Chúng ta cũng hãy nhớ đến 400,000 người dân Hoa Kỳ đã ngã xuống nơi vùng đất xa quê hương để chiến đấu chống lại chủ nghĩa phát-xít và độc tài.

400,000 người dân Hoa Kỳ đã mất trong Thế chiến thứ II, ngày nay sự hy sinh này dường như bị lãng quên. Đài tưởng niệm Thế Chiến thứ II ở Hoa Thịnh Đốn, tháng 07/2017. (Ảnh MusikAnimal CC BY-SA 4.0)

Giữa muôn vàn sóng gió mà chúng ta đang đối mặt, hãy ngưng đọng trong giây lát để tưởng nhớ và ca ngợi sự tốt đẹp của Hoa Kỳ, cũng như tầm nhìn độc đáo của Giấc mơ Hoa Kỳ. 

Jeff Minick
Thuần Thanh biên dịch