Nước Việt Nam ta kể từ Đinh Tiên Hoàng (968-978) dẹp yêu 12 sứ quân, dựng cờ tự chủ, gây thành một nước độc lập. Phía Bắc đối với Trung Quốc, tuy vẫn nạp cống xưng thần, song đã bao phen chiến thắng họ. Đan cử như Lý Thường Kiệt đánh quân Tống, Trần Hưng Đạo đánh quân Nguyên, Lê Lợi đánh quân Minh, Nguyễn Huệ đánh quân Thanh. Trải qua Tống, Nguyên, Minh, Thanh, nhà nào cũng bị dân tộc ta chống cự kịch liệt, lắm phen “ thiên triều” cũng phải hoảng sợ  mà e dè. Nhưng  kết cục rồi ta cũng phải theo cái lẽ nước nhỏ ở bên nước nhớn, mà cầu hòa nạp cống, để được rảnh tay về phía bắc, mà tiến bước về phía nam.

Cứ theo sử sách ta chép thì Chiêm Thành, Vạn Tượng, Chân lạp, Qua Ha, Tam Phật Tề và Mãn Thích Da, v.v.. đều đã bị ta thôn tính. Có nước thì bị mất hẳn, có nước thì cắt đất cầu phong. Thực đã vẻ vang cho giống nòi Việt Nam lắm vậy !

Trừ ra Chiêm Thành, Chân lạp và Vạn Tượng, sử sạch đã nói nhiều rồi, duy còn mấy nước nhỏ phụ thuộc vào các nước ấy thì không mấy nơi nhắc đến. Nay ta cũng nên lược qua lịch sử và địa dư của mấy nước ấy ra sau đây để cống hiến chư độc giả tiện bề khảo xét.

Theo sách Đại Minh nhất thống chí, và sách Việt Nam tập lược, thì gốc tích các nước ấy đại lược như sau

1. Nước Qua Ha –  Nguyên xưa là A Lăng hay là Bồ Gia Long, có những thuộc quốc như là: Tô Cát Đan, Đả Bản, Đả Võng Đề, v.v… Đời Tống Nguyên Gia năm thứ 9 (432) Qua Oa đã có giao thông với Trung Quốc. Đến năm Trinh Quan nhà Đường thứ 21 (647), vua nước Qua Oa là Trụy Bà La sai sứ sang cống hiến nhà Đường.

Đến năm Minh Thiên Thuận thứ tư (1460), vua nước Qua Oa là Đô Mã Bản còn sang triều cống nhà Minh. Rồi sau bị nước Việt Nam ta thôn tính, chia làm hai nước gọi là Thủy xá và Hỏa xá.

Xét sử nhà Minh, thì phía đông giáp nước Phù Nam; phía tây giáp nước Tam Phật Tề; phía nam giáp nước Chiêm Thành, bây giờ ở vào khoảng tỉnh Bình Thuận; Biên Hòa và Bà Rịa.  

2. Nước Tam Phật Tề – Đời cổ gọi là Thiên đà lợi, ở về phía nam nước Chiêm Thành, vào khoảng giữa nước Chân Lạp và nước Qua Oa, gồm 15 châu, có những thuộc quốc như Đơn Mã, Lệnh Lăng, Nha Tư, Bồng Phong, Đăng Nha, Nùng Tế Lan, v.v…

Vua nước ấy gọi là Thiềm Ty, khoảng năm Thiên Hựu nhà Đường, (904), đã giao thông với trung Quốc. Hồi năm Kiến Long nhà Tống ( 960-962), vua nước ấy là Tất Lợi Hồ Thiên Hà Lý, sai sứ sang cống hiến Trung Quốc. Mãi đến năm Vĩnh Lạc thứ ba đời Minh (14405) nước Tam Phật Tề ấy hãy còn sang Tàu cống hiến.

Dân nước ấy thì giàu thịnh, tính hiếu dàm, thủy chiến rất giỏi. Ấy thế mà sau cũng bị nước Việt Nam ta thôn tính hết. Cứ theo hình thế như trên đã kể thì nước ấy ở vào khoảng tỉnh Định Tường ngày trước, mà bây giờ thì là các tỉnh Tân an, Mỹ Thọ, Bến Tre, v.v…

3. Nước Mãn Thích Da –  Đời Hán Quang Võ (25 27), Mã viện sang đánh quận Giao Chỉ, thì nước ấy gọi là Tây Đồ Di. Về sau gọi là Ca La Phu Sa; kinh đô ở xứ Đồ Bà, nên lại gọi là Đại Đồ Bà hay là Trọng Già La. Năm Vĩnh Lạc nhà Minh thứ ba (1405), vua nước ấy là Tây Lợi Bát Nhi Đạt Thích, sai sứ sang cống hiến Trung Quốc. Đến năm 1412 nhà Minh sai quan thái giám là Trịnh Hòa làm chánh sử, sang phong cho vua nước ấy là Mãn Đa Thích quốc vương, và dựng bia làm mốc để ngăn nước Tiêm La khỏi sang sâm lân.

Sau khi truyền đến Tô Đan Mang Tốc Sa, năm Minh Thiên Thuận thứ ba ( 1459), còn sang triều cống nhà Minh sau đó, không bao lâu bị nước Chiêm Thành chinh phục, rồi nước Chiêm Thành lại bị Việt Nam ta thôn tính, sáp nhập vào xứ Nam kỳ, tức là một giải sông vào khoảng mấy tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, và Sa Dec bây giờ vậy.

Xét ra mấy nước ấy vào hồi thế kỷ mười  lăm vẫn còn hưng thịnh, thường vào cống hiến nhà Minh, đến khi suy nhược, bị Chiêm Thành thôn tính thì sử không nói rõ là hồi nào song ta có thể đoán định rằng các đời chúa Nguyễn mở mang bờ cõi ở phía nam dần dần đến năm 1697, chúa Nguyễn Phúc Chu đánh nước Chiêm thành, lấy nốt Phan Rang và Phan Ri, thì nước Chiêm Thành bấy giờ mới bị diệt hẳn. Lại đến năm 1739. đời chúa Nguyễn Phúc Khoát lấy được sáu tỉnh Nam kỳ của Thủy Chân Lạp. Thế thì biết ràng mấy nước ấy đã bị tiêu diệt vào khoảng cuối thế kỷ thứ mười bẩy hay đầu thế kỷ thứ mười tám.

Ấy đại để những nước đó mấy trăm năm trước khi ta chiếm đã từng hiển hách ở trên bán đảo chữ S này. Thế mà bây giờ chỉ còn mang mấy chữ tên, ghi trong sử sách, còn nòi giống thì đã bị ta đồng hóa cả rồi! Thực cũng đáng ngậm ngùi cho cuộc thịnh suy và lẽ hưng vong của các dân tộc ấy !.

Ôi, cái lý “ mạnh được, yếu thua, khôn sống, mống chết” xưa nay vẫn thế, ta cũng nên ngắm trước mà nghĩ sau …

Bản đồ dẫn qua cuộc nam tiến của nước Việt Nam

  1. Năm 1067, vua Lý Thánh Tôn đánh nước Lâm Ấp. Chế Cả bị bắt xin dâng 3 châu để chuộc tội, là Địa lý, Mã Linh và Bố Chính, gồm cả quận Nhật Nam tức là Quảng Bình, Quảng Trị bây giờ.
  2. Năm 1307, vua Trần Anh Tôn nhận 2 châu Ô và Lý của Chế Mân dâng làm lễ cưới Huyền Trân công chúa, bèn đổi tên thành Thuận châu và Hòa châu, tức tỉnh Thừa Thiên bây giờ.
  3. Năm 1402, Hồ Quý Ly sai Đỗ Mẫn đánh nước Chiêm Thành. Vua nước ấy là Ba Thích dâng đất Chiêm Động ( phủ Thăng Bình tỉnh Quảng Nam). Quý Ly lại bắt phải dâng đất Cổ Lũy, gồm lại đặt thành 4 châu, tức phía bắc đất Quảng Ngãi bây giờ.
  4. Năm 1470. vua Lê Thánh Tôn đánh Trà Toàn ở thành Đồ Bàn Vijaya và của Thi Nại ( tỉnh Bình định). gồm cả Đồ Bàn, Đại Chiêm và Cổ Lũy , lập thêm đao Quảng nam.
  5. Năm 1611, chúa Nguyễn Hoàng đánh Chiêm Thành, lấy đất lập ra phủ Phú Yên, có 2 huyện Đồng Xuân và Tuyên Hóa ( phía nam tỉnh Bình Định bây giờ).
  6. Năm 1653, chúa Nguyễn Phúc Tần đánh Chiêm Thành lấy tỉnh “Kauthara”, tức tỉnh Khánh Hòa bây giờ.
  7. Năm 1697, chúa Nguyễn Phúc Chu đánh lấy đất Phan Rang và Phan Lý, gồm hai phủ Yên Phúc và Hòa Đa, thế là nước Chiêm Thành từ đó mất hẳn !.
  8. Nước Qua Oa ngày trước ( Biên Hòa, Bình Thuận bây giờ) nhập vào bản đồ Việt Nam, năm 1759 đời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Trước gọi là Thủy xá, Hỏa xá thuộc xứ Thủy Chân Lạp.
  9. Nước Tam Phật Tề ngày trước cũng bị thôn tính vào hồi chúa Nguyễn Phúc Khoát (Vào khoảng mấy tỉnh Tân An, Mỹ Tho và Bến Tre bây giờ).
  10. Nước Mãn Thích Đa ngày trước cũng chung một số phận như 2 nước trên, vào hồi nước Việt Nam thôn tính nước Thủy Chân Lạp.(  tức là một giải sông vào khoảng mấy tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, và Sa Dec bây giờ ).
  11. Xứ Thủy Chân Lạp bị thôn tính vào khoảng năm 1759, sau lập ra 6 tỉnh Nam kỳ, do võ công chiến thắng của các đời chúa Nguyễn.
  1. Kinh thành Phật thệ ( Kandapurpura) ở làng Nguyệt Biều tỉnh Thừa thiên. Vua nước Lâm Ấp là Dương Đà Bài lập nên từ năm Thuần hóa nhà Tống (990 994).
  2. Kinh đô Trà Kiệu (Simhapura) gần gare Trà Kiệu tỉnh Quảng Nam, là một kinh đô rất phồn thịnh của nước Chiêm Thành vào hồi từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIII.
  3. Kinh đô Chà Bàn (Vijaya) ( Sách Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh trang 22 nói Chà Bàn tức là thành Phật Thệ đời trước) ở huyện Tuy Viễn tỉnh Bình Định. Năm 1470 vua Lê Thánh Tôn đánh Chiêm Thành: vua nước ấy là Trà Toàn bị giết, thành Chà Bàn bị mất từ đó. 

Biệt lam TRẦN HUY BÁ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)