Tưởng bấy lâu non nước rồng tiên, nung đúc nên đối vì nữ kiệt :

Dẫu đương buổi gió mưa Âu, Á, trông mong vẫn một dạ quốc dân. 

Tinh-thần còn đó, 

Cảm-cách không ngần ! 

Nép nghĩ: Hai đức Đại vương 

Sinh nơi tư cách rất mực hồng quần ! 

Nối dòng lương tướng, thay vị chân nhân. 

Nam-quốc khi xưa vận bĩ: 

Bắc thuộc, nhiều nỗi gian-truân ! 

Kẻ mày râu cũng vào tay trói buộc, 

Trai anh hùng khôn giở mặt kinh luân ! 

May cột Lạc nảy chồi hoa tỉ muội; 

Ngắm vườn Hồng, nở để búi kinh trăn ? 

Nỗi riêng, quyết trả thù nhà: gan vàng, dạ sắt; 

Thời loạn mong yên việc nước giáo nghĩa, gươm nhân.

Thành Đông kia phất ngọn cờ đào, bọn giặc Tố đã thúc đầu voi tung một chặp ! 

Hồ Tây nọ tuốt trăn gươm bạc, thây tướng Ma rắp đem da ngựa bọc bao lần ! 

Nét phấn son tô điểm non sông, sáu mươi ngả dệt thêu nền cẩm tú, 

Mũi kim chỉ đọc ngang trời đất, ba năm chầy lừng lẫy trận phong-vân ! 

Châu Phong xây lớp thành vàng, tầng mây ngất nền vương, nghiệp bá. 

Sông Hát tuôn làn sóng bạc, tiếng sấm vang thét giặc, la quân.

Vận dẫu gặp lòng trời tựa Hán ! 

Nghĩa vẫn không tôn để theo Tần. 

Cuộc thành bại mặc dầu kim cổ, 

Trường liệt-oanh dậy khắp xa gần. 

Làn hồ Bạc, trắng rọi đêm thu, gương  vằng-vặc còn soi trên lịch-sử; 

Dấu cột đồng bùn chôn đáy bể, sóng ầm-ầm vẫn rợn kẻ cường lân ! 

Sông Hạc một giòng, nước chảy sạch trong hồn chính khí. 

Lưng voi đối tượng, thần thiêng hiển hiện bến Đồng-nhân! 

Xuân qua, thu lại lừa hương, trải nghìn xưa, bao người sùng bái. 

Kinh bắc, thành tây miếu mạo, suốt ba kỳ chung dạ tôn than.

……….

……….

Anh-linh xin giảng miếu-đình, chứng giám cho lòng thành điền bộc; 

Phù hộ khắp trong xã-hội, ơn nhờ được lên chốn đài xuân.

CÚC HƯƠNG di mặc

S.C. sao lục

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)