Lưu ý của biên tập viên: Một số câu chuyện tường thuật trong bài viết này chứa các chi tiết phản cảm và đáng lo ngại về tra tấn cùng các hình thức đối xử đê hèn khác.

Vụ thảm sát ở Quảng trường Thiên An Môn

Những gì bắt đầu như một cuộc tụ tập sinh viên vào tháng 04/1989 để thương tiếc cho sự ra đi của ông Hồ Diệu Bang (Hu Yaobang) – cựu lãnh đạo Trung Quốc có tư tưởng cải cách – đã biến thành cuộc biểu tình lớn nhất mà nhà cầm quyền này từng chứng kiến. Các sinh viên đại học tập trung tại quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh đã yêu cầu Trung Cộng kiểm soát lạm phát trầm trọng, kiềm chế sự tham nhũng của các quan chức, chịu trách nhiệm về những sai lầm trong quá khứ, đồng thời ủng hộ tự do báo chí và các ý tưởng dân chủ.

Đến tháng 05/1989, sinh viên trên khắp Trung Quốc và cư dân Bắc Kinh từ mọi tầng lớp xã hội đã tham gia cuộc biểu tình. Các cuộc biểu tình tương tự đã xảy ra trên khắp đất nước.

Các lãnh đạo Trung Cộng đã không đồng ý với yêu cầu của sinh viên.

Thay vào đó, Trung Cộng đã lệnh cho quân đội dập tắt cuộc biểu tình. Vào tối ngày 03/06/1989, xe tăng đã lăn bánh vào thành phố và bao vây quảng trường. Nhiều người biểu tình không vũ trang đã mất đi mạng sống, hoặc bị tàn tật sau khi bị xe tăng đè bẹp, hoặc bị trúng đạn sau khi quân đội bắn bừa bãi vào đám đông. Ước tính có hàng ngàn người đã thiệt mạng.

Bà Lily Zhang, y tá trưởng tại một bệnh viện ở Bắc Kinh, cách quảng trường này 15 phút đi bộ, kể lại với The Epoch Times về cuộc đổ máu trong đêm đó. Bà thức dậy sau tiếng súng và vội vã đến bệnh viện vào sáng ngày 04/06 sau khi nghe tin về vụ thảm sát.

Khi đến bệnh viện, bà đã rất kinh hoàng khi chứng kiến một cảnh tượng giống như “chiến trường”. Một y tá khác đang khóc nức nở nói với bà rằng, vũng máu từ những người biểu tình bị thương đang “chảy thành sông tại bệnh viện”.

Tại bệnh viện của bà Zhang, ít nhất 18 người đã tử vong vào thời điểm họ được đưa tới cơ sở này.

Bà Zhang cho biết, quân đội đã sử dụng đạn “dum-dum,” loại đạn sẽ nở ra bên trong thân thể nạn nhân và gây thêm sát thương. Nhiều người đã phải chịu những vết thương nghiêm trọng và chảy nhiều máu đến nỗi “không thể cứu sống nổi họ nữa”.

Tại cổng bệnh viện, một ký giả bị thương nặng của tờ báo nhà nước China Sports Daily, nói với hai nhân viên y tế đang bế anh rằng anh “không tưởng tượng được rằng Trung Cộng sẽ thực sự nổ súng.”

Bà Zhang nhớ lại, những lời cuối cùng của anh ấy là, “Bắn hạ những sinh viên và thường dân không có vũ khí – đây là loại đảng cầm quyền gì vậy?”

Vào tháng 05/1989, một tháng trước khi xảy ra vụ thảm sát, lãnh đạo Trung Cộng đương thời là Đặng Tiểu Bình, người ra lệnh cho cuộc đàn áp đẫm máu này, đã được trích dẫn trong một bức điện tín của chính phủ Anh Quốc nói rằng “hai trăm người chết có thể đem lại 20 năm hòa bình cho Trung Quốc.”

Đến tận hôm nay, Trung Cộng vẫn từ chối tiết lộ số người thiệt mạng trong vụ thảm sát hoặc danh tính của họ, đồng thời bưng bít chặt chẽ thông tin về vụ việc.

Hai cảnh sát mặc thường phục bắt giữ một học viên Pháp Luân Công tại quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh, vào ngày 31/12/2000. (Minghui.org)

Cuộc đàn áp Pháp Luân Công

Một thập kỷ sau, Trung Cộng quyết định thực hiện một cuộc đàn áp đẫm máu khác.

Vào ngày 20/07/1999, nhà cầm quyền này bắt đầu một chiến dịch rộng rãi nhắm vào ước tính khoảng 70 đến 100 triệu học viên của Pháp Luân Công, một môn tu luyện tinh thần bao gồm các bài công pháp thiền định và những bài giảng đạo đức xoay quanh các nguyên lý Chân, Thiện, và Nhẫn.

Theo Trung tâm Thông tin Pháp Luân Đại Pháp, một trang web cung cấp thông tin liên quan đến Pháp Luân Công, hàng triệu học viên đã bị đuổi việc, đuổi học, bỏ tù, tra tấn hoặc bị sát hại chỉ vì họ không chịu từ bỏ đức tin của mình.

Năm 2019, một tòa án độc lập ở London đã xác nhận rằng Trung Cộng đã tiến hành cưỡng bức thu hoạch nội tạng “trên một quy mô đáng kể” và các học viên Pháp Luân Công bị bỏ tù “có khả năng là nguồn cung chủ yếu”.

Anh Hà Lập Phương (He Lifang), một học viên Pháp Luân Công 45 tuổi ở Thanh Đảo, một thành phố thuộc tỉnh Sơn Đông, đã qua đời sau hai tháng bị giam giữ. Người thân của anh cho biết có những vết rạch trên ngực và lưng của anh. Theo trang Minh Huệ Net (Minghui.org) – một trang web [có trụ sở tại Hoa Kỳ] chuyên theo dõi cuộc bức hại Pháp Luân Công ở Trung Quốc – khuôn mặt của anh trông như thể anh đang đau đớn, và có những vết thương trên khắp thân thể anh.

Hàng rào được xây bao quanh nơi được chính thức biết đến như một trung tâm giáo dục kỹ năng nghề ở Đạt Phản Thành, tỉnh Tân Cương, Trung Quốc, vào ngày 04/09/2018. (Ảnh: Thomas Peter/Reuters)

Đàn áp các nhóm tôn giáo và dân tộc thiểu số

Để duy trì sự cai trị của mình, Trung Cộng đã chuyển nhiều người Hán đến Tây Tạng, Tân Cương và Nội Mông, nơi các nhóm dân tộc sống với nền văn hóa và ngôn ngữ riêng của họ. Nhà cầm quyền này buộc các trường học địa phương sử dụng tiếng Hoa phổ thông (tiếng Quan Thoại) làm ngôn ngữ chính thức.

Vào năm 2008, người dân Tây Tạng đã biểu tình để bày tỏ sự tức giận của họ trước sự kiểm soát của chế độ. Để đáp lại, Trung Cộng đã khai triển cảnh sát. Hàng trăm người Tây Tạng đã bị sát hại.

Kể từ năm 2009, hơn 150 người Tây Tạng đã tự thiêu, hy vọng cái chết của họ có thể ngăn chặn sự kiểm soát chặt chẽ của Trung Cộng ở Tây Tạng.

Tại Tân Cương, giới chức Trung Cộng đã bị cáo buộc phạm tội diệt chủng đối với người Duy Ngô Nhĩ và các dân tộc thiểu số khác, bao gồm cả việc giam giữ một triệu người trong các trại “cải tạo chính trị” bí mật.

Năm 2020, nhà cầm quyền ở Bắc Kinh đã đặt ra một chính sách mới bắt buộc chỉ cho dạy chương trình tiếng Hoa phổ thông ở một số trường học ở Nội Mông. Khi phụ huynh và học sinh phản đối, họ đã bị đe dọa bằng việc bắt giữ, giam giữ và mất việc làm.

Trung Cộng cũng sử dụng một hệ thống giám sát để theo dõi các nhóm dân tộc. Các camera được thiết lập trong các tu viện Tây Tạng, và dữ liệu sinh trắc học vẫn được thu thập ở Tân Cương.

Nicole Hao
Bản tin có sự đóng góp của Eva Fu, Jack Phillips, Leo Timm, và Cathy He
Từ Huệ biên dịch