III – Chữ C (bài nối) 

Dưới chữ cá nước, in ở phần bổ-dị, trang 360, trong quyển Tầm nguyên từ-điển, ông Lê văn-Hòe nói rằng cá nước dùng để “trỏ bóng việc vợ chồng”, như câu “Những mong cá nước vui-vầy” trong Chinh-phụ ngâm hay câu “Cười rằng cá nước duyên ưa” trong Kim Vân Kiều. Tiếng ta còn dùng một nghĩa bộ ng nữa là “mông-mênh không có trụ sở nhất định,” như câu “Bỗng không cá nước chim trời lơ nhau” ở trong truyện Kiều (chép theo Việt Nam tự-điển). Cá nước chữ nho là ngư thủy: quyển Từ-nguyên chua một nghĩa là “ví vua tôi tương-đắc” và một nghĩa là “ví vợ chồng”. Về nghĩa thứ nhất Từ-nguyên dẫn sách Tam quốc chí như sau này: “Tiên chúa (Lưu Bị) cùng Gia Cát Lượng tình hiểu ngày càng thân-mật: quan Vũ và Trương-Phi không bằng lòng: Tiên-chúa phân giải rằng: Ta có Khổng-minh (tên tự Gia cát-Lượng) cũng như cá có nước (do ngư chi huu thuy dã), xin các ngươi chớ nói nữa”. Về nghĩa vợ chồng, ông Lê văn-Hòe dẫn truyện Quản-Trọng và Ninh-Thích nhưng ông nhầm đến ba bốn chỗ, tôi theo bộ Bạch tử toàn thư, quyển 46 (Quan tử), từ 4b chép lại như sau này: “Tề Hoàn công sai Quản-Trọng vời Ninh-Thích ra làm quan. Ninh-Thích giả nhời rằng; ‘Hạo bạo hồ !’ (Mông mênh thay;). Quản-Trọng không hiểu, đến bữa cơm trưa vẫn còn lo nghĩ. Đứa hầu gái của Quản-Trọng (ông Lê-văn-Hòe lại nói là đứa hầu gái nhà Ninh.Thích) hỏi rằng: ‘Ông lo nghĩ việc gì thể ?’ Quản Trọng nói: ‘Việc này không phải phận tôi-tớ chúng bay biết được’. Đứa hầu gái nói: ‘Ông chớ nên khinh người làm việc đê-hèn là trí-não cũng hèn. Xưa Bách-lý Hê là một người chăn trâu, Tần Mục-công dùng làm tướng, rồi bá-chủ chư-hầu. Xem như thế có cho người làm việc hèn là hèn cho người ít tuổi là bé đâu;’ Quản-Trọng nói: ‘Nhà vua sai ta đi cầu Ninh-Thích; Ninh-Thích giả nhời ta rằng: ‘Hạo bạo hồ’ Ta không biết ở Ninh-Thích nói gì ?’ Đứa hầu gái nói rằng: ‘Thơ cổ có câu (ông Lê-Hòe lại nói trong kinh Thi có câu; Từ nguyên, ở chỗ truyện Quản-Trọng, viết là ‘Thi hữu chi’, nghĩa là thơ có đấy, chứ không phải là thư kinh Thi): “Hạo-hạo giả thủy, Dục-dục gia như (ông Lê-văn-Hòe chép nhầm là Hạo-hạo hồ thủy, Dục-dục hồ ngư); Vị hữu thất gia, nhi ân triệu ngã cư! – Ninh-Thích kỳ dục thật hồi”, ông Lê-văn- Hòe bỏ sót cấu cuối cùng, (Rộng mênh-mông ấy là nước, nhiều nhung nhúc ấy là cá; chưa có thất (vợ) gia (chồng), mà vời ta làm gì ?). Như thế là NinhThich muốn lấy vợ chăng ? ông Lê-văn Hòe lại dịch câu ấy là: (Ninh-Tử ý muốn có nhà ở chẳng;). Ý Ninh-Thích nói chưa có vợ, tức là hãy còn nhỏ tuổi, chưa ra làm quan vội tức là vời không đến”.

Ở trang 52, dưới chữ công-thải, ông Lê Văn Hòe cắt nghĩa “thải là đem tiền cho vay” như thế thì còn thiếu, vì Từ-nguyên chép chữ thải một nghĩa là đi vay (tá nhập), một nghĩa là cho vay (tá xuất), và dẫn sách Mạnh tử: “Hựu xưng thải nhi ích chi” (lại gọi vay mà thêm đầy), và sách Tả-truyện: “Dĩ gia lượng thải nhi dĩ công lượng thu chi” (lấy của nhà tính cho vay, mà lấy của công tính thu vào).

Cũng ở trang 52, đợi chữ cơ-cận ông Lê văn-Hòe in ngược hai chữ nho: ông cho chữ cận lên trên chữ ông đã cải chính ở trang 380; duy chữ ở chỗ cơ-ngã ông viết đơn thì không thấy chua gì cả. Ngũ phu là người đói, chứ không phải là người đàn ông đói); chữ phu ở đây viết thảo đầu chữ phu, không phải chữ phu là người đàn ông. Sách Mạnh-tử có câu: “Đỗ hữu nga-phu” (ở ngoài đường có người chết đói). 

Ở trang 53, dưới chữ , nên xóa chữ ngã tư trong câu: “hanh cù là ngã tư quang rộng dễ đi”. Từ-nguyên chua chữ hanh-cù “cũng như nói đường lớn giao thông” (do ngôn giao-thông chi đại gạo dã). Kinh Dịch chép,” Hà thiên chi cù hanh ?”, cho nên đường lớn gọi là hanh cù (cô vị đại đạo viết hanh cù). 

Cũng ở trang 53, dưới chữ cù-li (khổ lực), nên theo Từ-nguyên cắt nghĩa chữ khổ-lực một là dùng sức khó nhọc tức là có sức làm việc gì, hai là “người dùng công về lao- động như cước-phu (dùng chân tay), xa-phu “phu-xe”, người Anh người Pháp v.v. gọi là coolie (cu-1i)  “Vì người ngoại-quốc gọi người lao động ở cao đạo Ấn-độ Nam-dương là cu-li cho nên người Trung-hoa cũng gọi là cu-li”.  

Ở trang 54, ông Lê văn-Hòe nói rằng: Bến Tàu, đời xưa, phàm nhà cao lớn đẹp đẽ phần nhiều gọi là “cung”. Quyển Khang hi tự điển chép rằng: “Đời xưa chỗ ở của người sang người hèn đen gọi là cung (cổ gia quí tiện sở cư giai đắc xưng cung). Quyển Khang-hi còn chép những nghĩa này nữa; “1-Cung là chỗ ở vua Hoàng-đế làm cung-thất đồ tránh rét nắng …2- Người đàn bà gọi chỗ nằm là cung (phụ-nhân xưng tẩm viết cung). 3-Tường xung-quanh (chữ gọi là viên: kinh Lễ có câu: “Nho hữu nhất mẫu chi cung” (nho-giả có tường một mẫu)… 4-Đến Tần Thủy-hoàng dành chữ cung để gọi nơi trí-tôn… 5-Tôn-miếu cũng gọi là cung .. 6-Nhà học cũng thế: kinh Lễ có câu: “ Chư hầu viết phán-cung” (nhà quốc-học của nước chư hầu gọi là phán cung): phán nghĩa là bằng nửa của thiền-tử… ).

Ở trang 55 dưới chữ cunq-trạm thiếu chữ trạm viết bên chữ lập bên chữ chiêm. Trạm là nơi tạm đỗ gia đường; trạm-phu là lính trạm. Chữ nho còn có chữ dịch dịch trạm: Từ-nguyên cắt nghĩa chữ dịch là “mã đê dã cưu thời truyền đạt quan văn thư chi sở” (đưa bằng ngựa, nơi đưa những văn-thu việc quan của đời xưa): ta có câu “Nhanh như ngựa chạy trạm”. Bộ Khâm-định Đại Nam hội-điển quyển 171, tờ 21a) chép năm Minh-mệnh thứ hai (1821). Nghi chuẩn nay vâng đại giá Bắc-tuần, phàm có ân chiếu bài trạm, mỗi trạm có một tờ bài. bao nhiêu trạm phu chiếu cấp y số, không được bắt thêm trạm nào không có tờ bài ấy, chớ có sách-nhiễu càn; nếu viên nào trái, theo hình luật; trượng một trăm”. Quyển Đại-Nam điền lệ toát yếu tân biên (tờ 22) chép “các tiến-sĩ đi thi hội, khi về làng khi vinh-hương, khi đi khi về, hết thảy cấp trạm … Lệ năm Tự đức thứ 26 (1873) định: phàm các viên-nhân đi đâu mà chiếu lệ được trừ, nên cấp trạm; còn ngoài ra đều theo lệ thường: văn từ lục phẩm, vũ từ chánh đội giở lên, mới được cấp trạm”. Ông Lê văn-Hòe cắt nghĩa cung “là một bước dài”: nên xóa chữ dài, vì Từ nguyên chua là “tức nhất bộ dã”. Côn đồ dùng đồ đo đất gọi là họ cung, chứ không phải là cung: Từ-nguyên chép “Lượng địa sở dụng chi khí viết bộ-cung”. 

Ở trang 56 dưới chữ củng-cố, nên cắt nghĩa chữ củng một là dây da đồ buộc đồ-vật hai là bền chặt. Hoàng-đồ củng-cố không phải là “bức tranh nhà vua bền vững” chính là bờ-cõi nhà vua bền vững. Theo Từ-nguyên, chữ đồ có một nghĩa là “địa-phương khu-hoạch chi danh” (bờ cõi địa-phương).  

Cũng ở trang 56, dưới chữ cừ-khôi, ông Lê văn-Hòe cắt nghĩa “cừ là lớn, khôi là đứng đầu, cừ-khôi là người đứng đầu có tài đảm lớn” Từ-nguyên chỉ chua “cừ-khôi do ngôn thủ-lĩnh dã”, nghĩa là “cũng như nói đừng đầu”, không nói chi đến (tài đảm”. 

Ở trang 57 dưới chữ cực, ông Lê văn-Hòe cắt nghĩa cùng-cực là “rất nghèo”: còn thiếu nghĩa “cuối hết không còn gì nữa” trong câu “dò xét cho đến cùng-cực”, chép trong Việt-Nam tự điển. Bộ Từ-nguyên thì chép “củng cực ác sự viết cực” , nghĩa là khắp hết việc xấu gọi là cực. Chữ thái-cực, ông Lê văn-Hòe cắt nghĩa là nơi rất cao” cũng không đủ nghĩa, vì còn Đồ thái-cực: “cái chân trắng ở trong đen, cái chấm đen ở trong trắng, tức là nơi cắn-cử thay đổi của quẻ khám và quẻ 1i” (Hà-thượng dịch-trú, Đồ-huyết hạ, tờ 26a): những nhà làm thuốc, xem bói, xem tướng, lấy số, thường vẽ đồ thái-cực như thế cả, lan truyền đã lâu; ông Stanislas Le Gall làm quyển Le philosophe Tchou Hi và ông Marcel Granet làm quyển La pensée chinoise đã xét nghĩa chữ thái-cực theo thuyết “do thái-cực mà sinh ra âm dương”.

(Còn nữa)

Ứng hòe – NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)