Vị trí Thẩm phán Tối cao Pháp viện và sự đối lập trong quan điểm pháp luật của bà Amy Coney Barrett và bà Ruth Bader Ginsburg – đại diện quan điểm pháp luật của 2 đảng đối lập – chính là cuộc chiến về Hiến pháp (văn kiện pháp lý tối cao của Hoa Kỳ), là cuộc chiến giữa Tổng thống Trump – người bảo vệ những di sản của những vị Quốc phụ viết nên Hiến pháp –  với phe cánh tả và mục tiêu viết lại Hiến pháp Hoa Kỳ. 

Quyền lực quan trọng nhất của Tối cao Pháp viện đối với Hiến pháp

Các nhà soạn thảo Hiến Pháp Hoa Kỳ quy định Hiến Pháp là “Bộ luật tối cao của đất nước”, có nghĩa là các luật đưa ra mà mâu thuẫn với những quy định trong Hiến Pháp, thì những luật đó sẽ không có hiệu lực. Và quyết định chung thẩm đó thuộc về Tối cao Pháp viện. (Ảnh Samira Bouaou / The Epoch Times)

Hiến pháp là luật pháp căn bản của một quốc gia để điều hành chính phủ, phân chia quyền lực của chính phủ để cho các bên kiểm soát lẫn nhau theo mô hình tam quyền phân lập: Quốc hội nắm quyền lập pháp; Tổng thống nắm quyền hành pháp; còn Tòa án tối cao và các tòa án cấp dưới nắm quyền tư pháp.

Các nhà soạn thảo Hiến pháp Hoa Kỳ quy định Hiến pháp là “Bộ luật tối cao của quốc gia”, có nghĩa là các luật đưa ra mà mâu thuẫn với những quy định trong Hiến pháp, thì những luật đó sẽ không có hiệu lực. Và quyết định chung thẩm đó thuộc về Tối cao Pháp viện. 

Vì thế có thể nói quyền lực quan trọng nhất của Tối cao Pháp viện là giải thích và kết luận một vấn đề nào là phù hợp hay trái với Hiến pháp. Đây chính là lý do khiến vị trí này có thể định hình mọi mặt xã hội Hoa Kỳ trong nhiều thập kỷ, bởi Tòa tối cao có vai trò quyết định ra phán quyết về một loạt các vấn đề văn hóa, xã hội và chính trị như: nạo phá thai, hôn nhân đồng tính, sở hữu súng, nhập cư, lao động…

Tại sao có cuộc chiến về Hiến pháp?

Phe bảo thủ (đảng Cộng Hòa) trung thành với việc bảo vệ Hiến Pháp với đúng tinh thần nguyên bản khi các Quốc phụ Mỹ viết ra. phe cấp tiến (đảng Dân chủ) muốn diễn giải Hiến Pháp theo quan điểm tự do cá nhân của quan tòa, mục đích thay đổi Hiến Pháp. (Ảnh Mandel Ngan/AFP qua Getty Images; Samira Bouaou/The Epoch Times)

Phe bảo thủ (Đảng Cộng Hòa) trung thành với việc bảo vệ Hiến pháp với đúng tinh thần nguyên bản khi các Quốc phụ Hoa Kỳ viết ra, làm nền móng cho nền chính trị Hoa Kỳ dựa vào các nguyên tắc căn bản bất biến đã giúp xã hội Hoa Kỳ ổn định trong cả hơn 200 năm qua. 

Trong khi đó, phe cấp tiến (Đảng Dân Chủ) muốn diễn giải Hiến pháp theo quan điểm tự do cá nhân của quan tòa, mục đích thay đổi Hiến pháp và định hình lại mọi mặt xã hội Hoa Kỳ theo chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa cấp tiến, đặc biệt sau cuộc cách mạng văn hóa Hoa Kỳ những năm thập niên 1960.

Các thẩm phán diễn giải Hiến pháp theo quan điểm tự do, cấp tiến trên cơ sở những đòi hỏi về quyền tự do triệt để, tách rời tôn giáo và các giá trị đạo đức truyền thống với pháp luật, nhằm theo đuổi cổ xúy một thứ chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa tương đối về đạo đức.

Chủ nghĩa tương đối về đạo đức cho rằng không có đạo đức tối cao và bất biến, mỗi cá nhân đều có thể dựa vào quan niệm bản thân mình để quyết định nên hành động như thế nào. Ví dụ, một người phụ nữ có quyền quyết định việc giữ hay phá bỏ thai nhi, kết hôn với người khác giới hay đồng giới. Trong khi phe bảo thủ xác định đúng sai tốt xấu, được phép, không được phép theo các điều răn của Chúa, và tin rằng có một chuẩn đạo đức tuyệt đối, là Đạo của Tự nhiên và Đấng Sáng Thế.

Trong một vụ xét xử về phá thai năm 1992 của Tòa án Tối cao, Thẩm phán Anthony Kennedy – vị thẩm phán thuộc phái tự do tuyên bố: “Có một số người sẽ cho rằng phá thai đi ngược lại với nguyên tắc đạo đức cơ bản của chúng ta, tuy nhiên điều này không thể ảnh hưởng đến quyết định của chúng tôi. Trách nhiệm của chúng tôi là định nghĩa “tự do” cho tất cả mọi người, chứ không phải cưỡng chế thực thi nguyên tắc đạo đức của bản thân chúng tôi.” (Tổ chức kế hoạch hóa gia đình ở đông nam Pennsylvania v. Casey (Số 91-744, 91-902).)

Các thẩm phán cấp tiến nhấn mạnh “tự do” là cơ điểm hành pháp của tòa án, chứ không phải là nguyên tắc đạo đức. Điều này thực tế là tách rời “tự do” khỏi nguyên tắc đạo đức phổ quát của con người. Định nghĩa về tự do của những Quốc phụ thành lập nên nước Hoa Kỳ, cơ sở của nó là giá trị phổ quát “mọi người đều biết”, nó không phải là thứ tự do theo quan điểm cá nhân mà là do Đấng Sáng Thế quy định.

Tự do trong Hiến pháp Hoa Kỳ là gì?

Mặt sau của tờ tiền 100 đô la có ghi khẩu hiệu quốc gia “In God We Trust”. (Ảnh Shutterstock)

Tự do là một trong 3 giá trị cốt lõi làm nên nước Hoa Kỳ được in trên các đồng xu bao gồm:

E Pluribus Unum (từ rất nhiều, một); In God we Trust (Chúng ta tin vào Chúa); Liberty (Tự do)

“E Pluribus Unum” (từ rất nhiều, một): có nghĩa là người Hoa Kỳ có thể thuộc mọi nguồn gốc dân tộc, quốc gia… miễn là họ tới Hoa Kỳ (một cách hợp pháp), chăm chỉ làm việc xây dựng quốc gia Hoa Kỳ thịnh vượng tốt đẹp. 

“In God we Trust” (Chúng ta tin vào Chúa): nghĩa là nước Hoa Kỳ thành lập trên niềm tin rằng Chúa là nguồn gốc của mọi giá trị trên đời.

Người Hoa Kỳ có thể đến từ mọi quốc gia, nhưng nếu không có niềm tin vào Chúa thì có lẽ không thể được xem là một người Hoa Kỳ chân chính. 

Liberty (Tự do)”: Hoa Kỳ là xã hội duy nhất đặt Tự do cùng với ‘Chúng ta tin vào Chúa’ và E Pluribis Unum. 

Có nghĩa là Tự do của Hoa Kỳ là tự do được ban cho bởi Chúa về sự bất khả xâm phạm vào quyền được sống, mưu cầu hạnh phúc và tự do ngôn luận, trong khuôn khổ các chuẩn mực đạo đức làm người mà Chúa răn dạy.

Nó tất nhiên không phải là thứ tự do vô độ phóng túng dục vọng, hoặc thứ tự do đoạt mạng sống của người khác như việc cho phép phá thai. Cuộc sống con người là bất khả xâm phạm bởi nó được tạo ra bởi Đấng Sáng Thế và đó là lý do mà sinh mệnh con người là thiêng liêng, sự bình đẳng của con người là sự bình đẳng từ Chúa.

Với một bộ Hiến pháp khẳng định quyền của con người thuộc về quyền tối cao của Đấng Sáng Thế, tức là sự khẳng định pháp luật của con người dựa trên căn bản Luật của Thần và Tự Nhiên (“The laws of Nature and laws of Nature’s Gods”).

Quyền tự do theo Hiến Pháp Mỹ, có lẽ không gì sáng tỏ hơn lời của Benjamin Franklin một trong bảy thành viên chủ chốt của nhóm lập quốc, tham gia soạn thảo Tuyên ngôn độc lập Mỹ, rằng: “Chỉ những người có đạo đức mới xứng đáng được tự do”.

Pháp luật truyền thống dựa trên căn bản Luật của Tự Nhiên và của Thượng Đế

Bộ pháp điển đầu tiên trong lịch sử nhân loại được ghi chép thành sách là “Bộ pháp điển Hamurabi” của Babylon cổ đại. Phần đỉnh của bia đá khắc bộ pháp điển là hình vẽ miêu tả cảnh Thần Thái Dương Shamash (cũng là Thần Công Lý) của Babylon đang truyền thụ pháp luật cho vua Hamurabi, ngụ ý là Thần đã tuyển chọn Hamurabi và trao cho ông quyền lực để trị vì thần dân bằng pháp luật.

Bia đá khắc “”Bộ pháp điển Hamurabi”, là cảnh Thần Thái Dương Shamash (Thần Công Lý) của Babylon đang truyền thụ pháp luật cho vua Hamurabi. (Ảnh wikipedia)

Từ các hoàng đế La Mã vào thế kỷ thứ 4 sau công nguyên đến Justinian và những người kế tục ông, cho đến vua Alfred đại đế cũng đều lấy “Mười điều răn của Moses” và tinh thần giáo nghĩa của Cơ Đốc giáo làm căn cứ để xây dựng pháp luật. (“Pháp luật và tôn giáo”, Harold Berman).

Người phương Tây tín Thần coi “Mười điều răn của Moses” trong “Kinh Cựu Ước” là lời răn của Thần và cũng là pháp luật. Pháp luật phương Tây cũng đi theo truyền thống này. 

Pháp luật là quy định cứng rắn để duy trì sự công bằng, chính nghĩa, trừng trị kẻ ác, khuyến khích người thiện, do đó pháp luật phải đưa ra định nghĩa về “Thiện” và “Ác”. Đây là những giá trị phổ quát của nhân loại, được quy định bởi Thượng Đế/Trời/Sáng Thế Chủ, nó bắt nguồn từ Thần, là những giá trị đúng đắn với tất cả mọi người, mọi quốc gia, mọi thời điểm, nó phải là tiêu chuẩn bất biến, vì thế các kinh sách trong tôn giáo đều lấy căn cứ và nguồn gốc từ Luật của Thần.

Lincoln trong lời kết thúc bài diễn thuyết tái đắc cử lần hai, đã nhấn mạnh chính Thượng đế mới là Đấng Tối Cao giúp con người phân biệt thiện ác: “Thượng đế đã ban tặng trí tuệ để giúp ta phân biệt đâu là chính nghĩa, để ta kiên định tin vào chính nghĩa”.

Nhà hiền triết Hy Lạp Cicero là người bàn về sự tồn tại của Luật tự nhiên (Luật của Thần). Trong cuốn “Bàn về Cộng Hòa”, ông viết:

“Thật sự có một luật, là lý trí đúng đắn, hoàn toàn tuân theo tự nhiên; tồn tại trong tất cả, bất biến, và vĩnh cửu. Luật đó chỉ đạo cho chúng ta điều gì là tốt, cấm chúng ta làm điều xấu. Nó không thay đổi, không phải là một thứ này ở Rome, và một thứ khác ở Athens: không phải một thứ này ngày hôm nay và một thứ khác vào ngày mai. Nó là vĩnh cửu, không thay đổi đối với tất cả quốc gia và trong mọi thời điểm.”

Giá trị phổ quát của nhân loại không thể thay đổi theo quan điểm của các thẩm phán. Xét một cách lý trí, nếu như các thẩm phán tùy ý định nghĩa Thiện – Ác theo quan điểm cá nhân, thì ai cũng có thể làm vậy. Và như thế thì xã hội sẽ rối loạn vì không có một tiêu chuẩn cố định, bất biến.

Người Trung Hoa xưa tin rằng: “Đạo chi đại nguyên xuất ư thiên, thiên bất biến đạo diệc bất biến” (Đạo bắt nguồn từ Trời, Thiên bất biến Đạo cũng bất biến). Tín ngưỡng đối với Thiên đạo là cơ sở đạo đức của văn hóa truyền thống, và là nền tảng cho chế độ chính trị pháp luật, có ảnh hưởng tới lịch sử hàng nghìn năm.

Hiến pháp Hoa Kỳ thiết lập nên một nền Cộng Hòa dựa trên nền tảng tôn giáo và đức hạnh, cho nên rõ ràng rằng Luật Chúa là nền tảng của Hiến pháp, pháp luật Hoa Kỳ. 

Như vậy trên phương diện pháp luật một điều luật được coi là có hiệu lực thì phải phù hợp với quy luật của Tự nhiên, của các Thần và Đấng Sáng Thế. Quan hệ giữa pháp luật của Thần và pháp luật của con người thế tục là quan hệ giữa pháp luật bên trên và pháp luật bên dưới, pháp luật của Thần là tiêu chuẩn tối cao và không thể đi ngược lại.

John Adams, Tổng thống thứ Hai, một trong các vị Cha Lập quốc của Hoa Kỳ từng nói: 

“Hiến pháp của chúng ta chỉ dành cho người có đạo đức và tín ngưỡng. Nó hoàn toàn không thích hợp cho chính quyền của những kiểu người khác.” 

Phải chăng, khi viết điều này, John Adams cảnh báo trước nguy cơ Hiến pháp Hoa Kỳ bị diễn giải để thực thi một thứ pháp luật biến dị rời xa các tiêu chuẩn Luật của Thần/Thượng Đế ngày nay?

Đan Thư