Ngài họ Trần, huý Quốc-Tuấn.

Phụ thân ngài là An sinh-Vương Liễu, tức là anh ruột vua Thái-Tôn; mẫu thân, An-sinh-Vương phu-nhân, huý là Nguyệt.

Ngài vốn có một khiếu thông minh dị thường. Lên sáu tuổi đã hiểu biết thế nào là văn chương, võ-nghệ, làm thơ ngũ ngôn, bày bát trận. Lại sớm được theo học những bực tài giỏi về thời bấy giờ.

Thường ngày hoặc bàn thao lược với em là Chiêu-văn-Vương Nhật-Duật, hoặc hầu vua giảng sách trong tòa Kinh-diên.

Khi đã lớn, thường đem lục thao tam lược của Thái-Công, Tử-phòng diễn làm trận đồ để dạy các tướng khác.

Nước ta bị cái nạn xâm lăng: quân Mông-cổ, sau khi thắng từ Á đến Âu, sang đánh nước ta. Giữa lúc quân thần ai nấy đều thất vọng, đề nghị nên hàng. Trần Quốc-Tuấn một mực xin chống giữ giang-sơn.

Tháng mười năm Qúi-mùi, niên hiệu Thiệu-bảo năm thứ năm (1238), vua Nhân-Tôn cất Hưng-đạo-Vương làm Quốc công, thống lĩnh hết thuỷ và bộ binh gồm có hai mươi vạn.

“Bản chức phụng – mệnh thống đốc quân sĩ ra phá giặc…” 

Thất bại ở Khả-li và Lộc châu, rút về ải Chi lăng rồi Vạn-kiếp. Vua Nhân-tôn lo ngại, bàn với Hưng-đạo-Vương: “Nên chịu hàng để cứu muôn dân”. Ngài tâu với vua: “Bệ hạ nói câu ấy thì thật là lời nhân đức, nhưng mà tôn-miếu xã-tắc thì sao ? Nếu bệ hạ muốn hàng xin trước hãy chém đầu tôi đi đã”.

Rồi chiêu tập quân đội ở Vạn-kiếp, soạn Binh-thư yếu lược, truyền hịch : “Ta đây, ngày thì quên ăn, đêm thì quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức rằng chưa được xả thịt lột da  quân giặc, dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa thì cũng đành lòng” miễn là …

Tiếc thay lần này cũng như mọi lần qua, Hưng-đạo-Vương chỉ thừa lòng can đảm nhưng thiếu quân nhu, đánh đâu thua đấy, phải rút về Thăng-long rồi rước xa-giá chạy vào Thanh-Hoá.

Bị quân ở Bắc đánh vào, bể đánh lên, nguy cấp quá, lại phải rước xa-giá chạy về Quảng-Yên.

Quân tướng ra hàng nhiều. “Chỉ còn Hưng-đạo-Vương phụng xa-giá đi, trèo non vượt bể, trải gió dầm mưa, thế lực tuy cùng, nhưng vẫn bền vững một lòng tìm kế đánh giặc, lo liệu việc nước” (1)

Từ trước đến nay chỉ có lòng kiên nhẫn của ngài là một bức tường thành kiên cố mà quân Nguyên không thể phá tan được.

Đầu năm Ất-dậu (1285), Hưng-đạo-Vương nhận thấy quân Nguyên phần thì lương thực thiếu, phần thì mệt mỏi, mới bắt đầu phản công.

Trận Chương dương-độ mở đường cho quân ta tiến về Thăng-Long. Mấy tướng Mông bị giết. Thoát-Hoan chạy về Tàu.

Trong vòng sáu tháng giời, từ tháng chạp năm Giáp-thân (1284) đến tháng sáu năm Ất-dậu (1285), quân ta dưới quyền chỉ huy của Hưng-đạo-Vương, đánh đuổi được 50 vạn quân Mông Cổ ra ngoài bờ cõi.

Mùa xuân tháng hai năm Đinh-hợi (1287), Thoát-Hoan đem quân sang đánh báo thù. Lại một dịp đo tài, thi gan cùng Trần-quốc-Tuấn.

Bắt đầu quân Nguyên to thế thắng, quân ta phải lui về Vạn-kiếp. Thua ở đấy, phải rút về Thăng-long.

Thoát-Hoan tấn công Thăng-Long thất bại, phải kéo về Vạn-kiếp. Dấp thua trận Vân-đồn, lương thực lại bị quân ta lấy cả.

Hiểu tình thế, quân ta phản công ở Bạch-đằng Giang, ngài cùng quân-sĩ trỏ sông Hoá-Giang mà thề rằng: “Trận này không phá xong giặc Nguyên thì không về đến sông này nữa”.

Cuối cùng quân ta toàn thắng. Thoát-Hoan cùng tướng lĩnh chạy về Tàu. Có thể gọi là trận lớn nhất của lịch sử ta từ mấy nghìn năm.

Lúc bấy giờ vào tháng ba năm Mậu-tí (1288).

Ngài được phong làm Thái sư, Thượng-phụ Thượng-quốc-công, Bình- bắc đại-nguyên-suý, Hưng- đạo Đại-vương.

Giang-sơn chỉnh đốn lại được như cũ, ngài xin về trí-sĩ ở Vạn-kiếp, chỗ dinh cũ của ngài.

Ngài mất ngày 20 tháng tám năm Canh-tý (1300).

LÊ – THANH

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

(1) Việt-nam sử lược.