Tiểu-sử Nguyễn Văn-Thành, bạn Nhật-Nham đã giới thiệu sơ với độc-giả Tri-Tân ở thiên “Dẫn giải và chú-thích bài văn tế trận vọng tướng sĩ  (T.T. số 23, trang 17,18). Nay tôi xin nói lại cho thêm tường. Tằng-tổ ông Thành tên là Toán, quê ở Quảng-điền tỉnh Thừa-thiên, dời vào ở đất Gia-định ; đến đời ông tổ tên là Tính lại ra ở Bình-hoà, sai đến đời cha tên là Hiền thì lại vào ở Gia-định. (1)

Thành, tướng-mạo khôi-ngô, tính khí lại thâm trầm cương nghị, ham đọc sách và võ-nghệ cũng giỏi.

Bấy giờ vào thời Định-vương, Nguyễn Phúc-Thuần (2), hồi tháng hai năm Quý-tị (1773), Tây-sơn Nguyễn Văn-Nhạc khởi binh ở Quy-nhơn. Lưu-thú Long – hồ Tống Phục-Hợp và cai bạ Nguyễn Khoa-Thuyên mộ quân cần vương, Nguyễn Văn-Hiền cũng đi mộ quân nghĩa-dũng để theo đánh giặc, liền được thụ chức cai đội quản bộ quân tiền chi, đánh nhau với giặc ở Phan-rang. Sau khi phá tan được quân bên địch, tiến lên Bình-khương thì Tống Phúc-Hợp đã thua quân Tây-sơn, phải lui về Nha-trang rồi Hiền tiến binh tới đảo Tam sơn, gặp quân địch giao chiến rồi tử trận, sau được truy tặng chức cai cơ rồi lên chưởng dinh và được liệt tự vào hai miếu “Hiền trung” và “Trung-tiết công thần”.

Khi trước, Thành cũng ứng mộ, theo phụ thân đi đánh giặc, đóng quân ở Cầu-Giang. Tống Phúc-Hợp sai Hiền đem mấy nghìn quân đi tải lương, Thành cũng xin đi theo. Đi đến nửa đường, quá nửa quân lính còn phải khiêng đội thóc gạo, không kịp phòng bị, thì gặp quân Tây-Sơn đổ ra chặn ngang đường. Hiền thấy quân địch đến, ra hiệu cho con là Thành lui tránh đi, song Thành lẻn ra sau trận, sai quân đội thóc gạo dơ sào lên giả làm giao-mác và treo áo lên giả làm cờ, rồi vòng ra đằng trước vừa đánh trống vừa reo hò kéo lên, làm cho bụi bay mù mịt. Quân địch tưởng là có viện binh đến, phải tháo lui cả. Quan quân thừa cơ đánh theo được toàn thắng. Tống Phúc-Hợp khen Thành còn trẻ tuổi mà có mưu trí, bèn thưởng cho bạc và lụa.

Đến khi Hiền tử-trận thì đức Duệ-Tôn  phong cho thành làm cai-đội Thành cũng đi chiêu-lập được 800 quân tráng-dũng theo Đỗ Thanh-Nhân đánh Tây-sơn thu phục được Sài-côn.

Mùa xuân năm Ất-tị (1785), Thành theo Nguyễn-vương là chúa Phúc Ánh sang Vọng-các, lại giúp vua Tiêm đi đánh tan được quân Diến-điện.

Khi ấy vua Tiêm muốn giúp binh, Nguyễn-vương họp các tướng tá lại bàn, thì Thành tâu rằng quân Tiêm tàn-ngược trí-trá, không nên nhờ họ giúp nữa. Nếu nhờ binh-lực họ mà thành-sự thì lại phải lo về sau. Không gì bằng hãy cứ yên-tĩnh mà đợi thời còn hơn.

Đến năm Đinh-mùi (1787), Thành phụng mạng đi đón Hà Hỉ-Văn là một người Tàu ở đảo Cổ-Cốt cùng với mấy người nữa cũng cùng xin theo giúp vua Nguyễn, sau cả bọn bị bạt phong về Hà-tiên, tuyệt lương.

Khi quan quân thất lợi trận Mỹ-thọ, có kẻ xui Thành về làng mà ở, Thành bảo rằng : “Chúa, tôi là nghĩa cả, dù sống chết cũng phải nên giữ lấy, còn sự thành bại là tại ở trời, ta liệu trước sao đặng ; nếu nhân lúc bại trận mà bỏ trốn, đó là kẻ tiểu-nhân phản-phúc, ta không thèm làm”. Rồi Thành cùng bọn Hỉ-Văn tất cả 17 người vượt bể đi tìm theo vua Nguyễn.

Về tới Long-xuyên, nghe tin nhà vua đóng quân ở Ba-lai, Thành đến tận nơi, xin đi chiêu-tập quân nghĩa-dũng để đánh Tây-sơn.

Tháng 4 năm Canh-tuất (1790), Nguyễn-vương sai chưởng tiền-quân Lê-Văn-Quân đem 5.000 quân thuỷ-bộ, lại sai Võ-Tánh cùng Nguyễn Văn-Thành làm tiên phong ra đánh lấy Bình-thuận, vương sai Văn-quân ở lại, trấn thủ Phan-ri, triệu Võ-Tánh và Nguyễn Văn-Thành về Gia-định. Sau Thành lại đem quân đi đánh giải vây rồi lại cùng Lê Văn-Quân giữ Phan-ri.

Tháng 3 năm Nhâm-tý (1792), nhân có gió nồm thổi mạnh, Thành lại cùng bọn Nguyễn Văn-Trương và hai thuỷ-quan người Pháp là Dayot (3) và Vannier (4) đem chiến thuyền từ cửa Cần-giờ ra cử Thi-nại đốt phá hết thuỷ-trại của Tây-sơn rồi lại về.

Tháng 3 năm Quý-sửu (1793), Nguyễn-vương thân-chinh đi đánh Qui-nhơn,  Nguyễn Văn-Thành làm Khâm-sai Bình-sơn Tiền tướng-quân, đem bộ-binh đi trước. Thành đi đến đâu dẹp tan đến đấy. Bấy giờ nghe tin thái-uý Tây-sơn là Nguyễn văn-Hưng đem quân Phú-Xuân vào cứu-viện Qui-nhơn, tiền quân Thành phụng mạng đem quân đến Thạch-tân chận đường, đánh mấy trận, quân địch đều phải bỏ lui cả. Thành lại noi theo đường bộ, kéo binh đến hợp-lực cùng thuỷ-quân nhà Nguyễn ở cửa Thi-nại, rồi rút quân đến đóng ở Phú-yên.

Bấy giờ trong hàng tướng-tá có nhiều người nghi sợ quân Tây-sơn đến đánh đuổi. Thành cả-quyết mà nói rằng : “Trong Qui-nhơn, ngoài Thuận-hoá, tuy là thân-thích, song kỳ thực là cừu-địch. Chẳng qua họ mượn tiếng vào cứu-viện nhau, nhưng thật thì chỉ muốn nuốt nhau thôi. Nhạc cứu lấy mình không xong, còn hơi sức đâu mà đi đuổi người nữa?…”

Khi đại-binh nhà Nguyễn vào cửa Thi-nại thì vua Tây-sơn là Nguyễn Văn-Nhạc sai Thái-tử là Nguyễn-Bảo đem binh ra kháng-chiến, Nguyễn vương bèn mật sai Võ Tánh đem quân lẻn đi với toán quân Tôn-thất Hội và Nguyễn Văn-Thành đánh tập-hậu. Bảo chống không lại, phải bỏ chạy về Qui-nhơn. Quân thuỷ bộ nhà  bấy giờ đã liên-lạc được với nhau. Vương lại sai Tôn-thất Hội cùng Võ-Tánh Nguyễn-Hoàng Đức (5) và Nguyễn Văn-Thành đem binh tiến lên đánh Qui-nhơn.

Nhạc phải cho ra Phú-Xuân cầu cứu.

Thấy viện-binh tới, biết thế không chống lại, vua Nguyễn rút quân về Gia-định, để Nguyễn Văn-Thành ở lại giữ Diên-Khánh, Hoàng-Đức giữ Bình-thuận.

(còn nữa)

NGUYỄN TRIỆU

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

1. Đại-Nam chính-biên liệt-truyện, sơ tập, quyển 21.

2. Định-vương Nguyễn phúc-Thuần (1754-1777) là con thứ 16 vua Võ-vương Nguyễn phúc- Khoát (1714-1765). Nguyên từ năm Giáp-tý (1744), Võ vương đúc ấn lên ngôi vua ở Phú-xuân, lập Hoàng-tử thứ 9 là Phúc hiệu lên làm thế tử vì hoàng trưởng tử đã mất sớm từ năm Quí-tị (1773), còn thế tử là Dương thì ít tuổi quá, nên vua để di-chiếu lập con thứ hai là Phúc luân (hay Gọ) lên ngôi.

Năm Ất-dậu (1765), Võ vương băng, quyền thần Trương phúc Loan không muốn để cho ông hoàng thứ 2 lên làm vua, bèn tráo đổi tờ di-chiếu của Võ-vương mà lập ông hoàng thứ 16 là Phúc-thuần lên làm vua, tức Định-vương, năm ấy mới 12 tuổi, sau truy tôn thuỵ là Duệ-tôn Hiếu định Hoàng-đế.

Tháng chạp năm Giáp-ngọ (1774), quân Hoàng ngũ Phúc vào chiếm cứ Thuận-hoá thì Phúc Dương, là con Phúc-Hiệu, đi trước qua Hải vân quan, còn Định vương thì xuống thuyền ra cửa Tư dung, rồi vào Quảng nam. Sang đến năm sau là Ất Mùi (1775) vua trú-tất tại Giá-tân thuộc Quảng nam, lập hoàng tôn Phúc Dương lên làm thế tử xưng là Đông-cung, mới được vài ngày thì quân Nguyễn văn Nhạc kéo đến đánh, kháng chiến không nổi, Đông cung Dương chạy lên ngả Câu đê, còn Định-vương thì qua Liên chữ, trong khi ly-biệt, vua dặn Đông cung phải ở lại để ngài vào Gia định làm kế đánh xa cứu gần thì mới được. Đông cung vâng mạng.

Tháng 2 năm ấy, quân Hoàng ngũ Phúc lại kéo vô đánh Quảng nam. Định-vương phải xuống thuyền chạy ra bể, gặp phải gió bão, thuyền các quan theo hầu ngự giá của Tôn thất Kĩnh và Nguyễn cửu Dật đều bị đắm, duy chỉ có ngự-thuyền vua và cháu ngài là Phúc-Ánh thì vô sự. Khi thuyền Định-vương và Phúc Ánh vào đến dinh Bình-khương, có Lưu thú Tống phúc Hợp và Cai bạ Nguyễn khoa Thuyên ra rước, rồi cùng vô cả trong đất Gia định, trú tất tai Ngưu chữ.

3. Xem Tri-tân số 21,trang 14

4. Xem Tri-tân số 16, trang 12-13

5. Xem tri-tân số 11, trang 19 và số 12, trang 17.