Tiếp theo của phần XII

Không những vậy, từ Đinh, Lê sấp đi, văn-học Việt-Nam cũng lại chịu ảnh-hưởng của tư-tưởng họ Lão nữa. Vì chuộng Lão-Đam là người ôm cái chủ nghĩa phóng nhiệm, nhà Đinh tỏ ý tôn-sùng đồ-đệ họ Lão: phong Trương Ma-Ni làm Tăng-lục đạo-sĩ, Đặng Huyền Quang làm Sùng-chân uy-nghi.

Vậy biết văn-học bấy giờ chịu chi phối dưới thế-lực cả tam-giáo (Nho, Đạo, Thích), mà đổi với Phật-học, lại nhuộm màu sắc thiền gia nhiều hơn.

Còn có điều này rất đáng chú ý: Lối hát trèo (bội) của ta chắc là bắt đầu có từ đời Lê Ngọa-Triều (1005 –1009). Vì Sử chép Lê Ngọa Triều có dùng một kẻ ưu-nhân (phường trào) người Tống tên gọi Liêu Thủ-Tâm, để lóc thịt tội-nhân bằng thứ dao nhụt (1) (mục đích cốt cho người bị giết không mau chết được), làm cho thỏa thích cặp mắt tàn-ngược. Mỗi khi coi trào, Ngoa-Triều thể nào cũng để những kẻ khôi-hài ở bên, khiến những tiếng mình cười đùa với chúng, khỏa lấp mọi lời tâu bàn của kẻ chấp-chính (Coi Đại Việt sử ký, Tiền biên, Bản kỷ, quyển: 1, tờ 39b-40a; Khâm định Việt sử Chính biên quyển 2 tờ 2).

Bởi những chữ “ưu-nhân, khôi-hài” đó, ta có thể đoán: Lê Ngọa-Triều chắc thích xem trèo, coi bội, nên mới tin dùng tên Liêu Thủ-Tâm. Hằng ngày những lời khôi-hài bông-lơn đã làm vui tai bạo chúa, nếu khi coi chầu, vị hôn quân ấy cũng không rời chúng ra được.

Đã thích khôi-hài, lại “nhập-cảng” được người phường trèo, việc làm đó của Lê Ngoại Triều tất cả ảnh-hưởng lớn đến dân-chúng. Chắc từ đó lối hát trèo truyền rông ra mọi nơi, kịch bản cũng dầu dừa ra mắt khán giả.

Đến đời Lý có người tên gọi  Vi Ất, bạn của ông Từ Đạo

Hạnh (2), chuyên làm nghề hát trèo (linh-nhân). Và có người linh-nhân lên gọi Ngô Toái, được vua Lý Thần-Tông (4) thăng làm thượng-chế ngự-khố thư-gia,

Tiếc rằng đời xa, tài liệu thiếu, ta nay không bởi đâu mà biết được kịch bản của đời bấy giờ có những gì và ra thế nào.

HOA BẰNG

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

1) Khi thấy kẻ bị hành hình kêu la rẫy rụa, Thủ-Tâm nói bông đùa để cho thêm vui:  “Nó không quên chịu chết!”

2 Thiền-uyển tập anh, truyện Từ Đạo Hạnh,

3) Đại-việt sử ký Tiền biên, Bản-kỷ quyển 3 tờ 36