Về mặt Phật-học, vua Trần Thái-Tông (1225-1258) đi sâu được vào nơi áo-diệu, nên ngài có thể làm tiêu-biểu cho phái triết-học ở đời Trần.  

Năm Thiên-ứng chính-bình thứ năm (1230), đang đêm, ngài vượt thành, đi đến chùa Vân-yên núi Yên-Tử, tham đạo nơi Trúc-Lâm Viên-Trứng quốc-sư. Từ đó, dốc lòng nghiên-cứu Thiền-học: những dịp nhàn-rảnh sáu lúc vạn cơ, ngài thường chiêu-tập các bậc kỳ túc để tham vấn.

Như trong lời chua ở bài trước (T. T.số 47, trang 13) đã nói, ngài, khi đọc kinh Kim-cương, đến câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”, bật giác-ngộ về đạo lý một cách khoát-đạt, bèn đem những cải sở ngộ ấy mà làm ra tập Thiền-tông chỉ nam ca. Sau gặp Thiên Phong thiền sư, ngài lại càng hiện rõ tôn-chỉ đạo Phật.

Ngài dựng chùa Tư-phúc ở bên hoàng cung làm nơi đốt hương, tu-trì. Lại mời những vị cao tọa trụ-trì ở các nơi Thiền-môn đến đó để tiện tham đạo và bàn hỏi. Vì vậy, ngài sở đắc rất nhiều.

Đề thi pháp cho người khác, ngài có tỏ những đạo lý cao thâm trong những câu kệ này: 

“Thiên giang hữu thủy, thiên giang nguyệt; 

Vạn lý vô vân, vạn lý thiên”.

Dịch: 

Nghìn con sông có nước, thì nghìn con sông đầy ánh trăng. | Muộn dặm khoảng không không mây thì lộ ra muôn dặm trời quang-đãng.

“Xuân vũ vô cao, hạ. 

Hoa chi tự đoản, trường”.

Dịch: 

Mưa xuân không có chia ra cao hay thấp, 

Chỉ tự cây hoa cỏ cành dài,cành ngắn đó thôi. 

 

“Kiểm vị bất bình, khai bảo áp. 

Dược nhân liệu bịnh, xuất kim bình” 

Dịch:

Vì có chuyện bất-bình, nên thanh kiếm phải rút ra khỏi vỏ báu. Vì cần để chữa bệnh, nên vị thuốc mới phải lấy ra khỏi cái bình bằng vàng.

Và: 

“Lưu thủy, hạ sơn: phi hữu ý. 

Bạch vân xuất tụ: bản vô tâm”. 

Dịch: 

Nước chảy xuống núi không phải là có ý gì. Mây trắng bay qua ngọn núi vốn là vô tâm: thảy đều làm theo tự-nhiên cả.

Nhân mấy câu kệ trên đây ta thấy vua Trần Thái đã bước lên tới bọc siệu-việt. Ngài cho rằng cái bản-thể người ta khi đã giác-ngộ, thành phật-tính rồi, thì thiên-chân lạn-mạn, tâm-tình bình thản, không thấy cái gì là nhân tướng ngã tướng, chúng-sinh tướng nữa. Nước sông đây, có trăng soi rọi thì tự khắc sáng loáng một màu.

Cái tâm người ta vốn rộng-rãi bao-la như trời, sở dĩ có lúc nó nảy ra tham, sân, si, chẳng qua là do đám mây “dục-tính”  ám-ảnh, nên mới mờ tối đó thôi: nếu mình tu-trì được, giữ cho muôn dặm không vẩn mây thì muôn dặm trời của ta lại vẫn quang-minh lồng-lộng,

Người ta cốt phải giữ cho tâm-tính được hồn-nhiên, đừng có mắt-míu vào một vật gì, thì trong tam-giới mới thảnh-thơi và nhất cử nhất động mới thành-thật được. Bài học ấy người ta phải nhận lấy ở giòng nước chảy và đám mây trôi kia. Nước chảy xuống núi, mây trôi qua non thảy đều tự-nhiên, ra từ vô-tâm, chứ không hề dụng ý một chút nào hết.

Cái đạo pháp của Phật là cốt phả đô bác tế, không hề phân-biệt ai hơn, ai kém, ai thấp, ai cao, chẳng qua chỉ tại người ta có thượng căn và hạ căn khác nhau, như cây hoa có cành dài, cành ngắn không đều, nên tưởng hạt mưa xuân kia có giọt cao giọt thấp.

Phật sở-dĩ phải hiện thân thuyết pháp, phải sả thân cứu đời, chẳng qua vì phát nguyện muốn độ chúng sinh thành phật hết thảy. Suy rộng ra, vương-giả phải đánh đông, dẹp bắc, phải đặt ra kỷ-cương pháp-độ. cũng chỉ vì muốn cho nhân-dân được hưởng lạc lợi hòa-bình. Ấy cũng như thanh gươm phải rút khỏi vỏ báu và vị thuốc phải ra ngoài bình vàng, là cốt vì cái mục đích tối cao: dẹp cơn bất bình và cứu chữa tật bệnh đau đớn cho người đời trong khổ-hải.

(Còn nữa) 

HOA BẰNG

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)