Xứng đáng với cái tên là “viên ngọc mã-lão của Phật” (Phật Mã), vua Lý Thái-Tông có lòng từ-bi, đặt luật bảo-hộ cho hạng dân-đinh (hoàng-nam) (1): Cấm không ai được mua bán họ làm nô-lệ. Lòng Bồ Tát đó chẳng khác ông Lincoln bên Mỹ giải-phóng cho bọn mọi đen !

Như trong bài tổng luận đã nói, dưới trào vua Lý Thái-Tông , có bộ “Hình thư” (1412) ra đời. Đó là chứng-cớ ngài chú-trọng về việc sửa đặt pháp-luật.

Chắc ngài cũng là người thích âm-nhạc, vì tôi căn cứ ở hai việc này :

1. Gặp ngày sinh-nhật, ngài cho làm ở sân rồng cái núi bằng tre, kêu là “vạn tuế Nam-sơn”, rồi sai phường trèo tấu nhạc và múa hát ở trong đó.

2. Sau khi chiến thắng Chiêm-thành, ngài có bắt về những cung-nữ Chàm khéo ca điệu Tây-thiên khúc. (coi Đại Việt sử ký Tiền biên, Bản kỷ, quyển 2, tờ 42 v.v.)

Nhân hai việc đó, ta có thể nói : đến đời vua Lý Thái-Tông đây người mình đã thạo nghề hát bội và thâu-thái thêm được lối ca Chàm nữa.

Về mặt Phật học, ngài rất cao thâm, biết thấu tôn-chỉ đạo Thiền, có thể thuyết Pháo trước các vị sư phơ phơ đầu bạc :

Bát-nhã thực vô tong,

Người không, ta cũng không !

Phật qua (qua khứ), hiện (hiện-tại), vị lai :

Pháp tính ấy vốn cùng

(Dịch)

Cũng một giọng thiền-vị đó ngài có làm bài thơ truy tán vị sư Tì ni đà lưu-chi :

Bay gậy sang nước ta,

Tu hành gửi cửa Già.

Ưng tin chư Phật nói,

Hợp một nguồn lòng xa.

Ngào ngạt sen Bát-nhã ;

Vằng-vặc trăng Lăng-già.

Khi nào lại gặp nữa?

Nói chuyện đạo Thích-ca

(Dịch)

Nói cho đúng, ngài ở vào đời hãy còn thuần-phác, trong óc lại chứa đầy tư tưởng nhà Thiền, nên thơ ngài nhuộm toàn một màu mộc-mạc, cổ-kính.

Ngài thọ 55 tuổi. Sau khi ngài băng, trên trang lịch-sử còn in những nét chữ vàng rực-rỡ : “Văn trị, võ tu, Nùng bình, Thiên phục”.

Tiết tám: Lâm Khu (?-1063)

Họ Lâm, tên Khu, pháp hiệu Huệ-Sinh, ông người Đông-phù-Liệt. (2)

Tướng-mạo khôi-ngô, đẹp-đẽ, ông đã có tài biện-thuyết, lại vẽ khéo, viết tốt, văn hay.

Ngoài món nho học ra, ông còn khảo rộng thiền-thư, bách luận và nhiều sách khác.

Tuy đã 54 tuổi, ông vẫn tinh-tiến hăng-hái : thụ nghiệp nơi Đinh-Huệ thiền sư, học hành ngày một tấn-tới. Rồi ông đi khắp tùng lâm, hàm dưỡng bằng đạo Phật.

Ban đầu tu ở chùa Bồ-đề trên núi Trà-sơn : ông muốn để nhiều thì-giờ yên-lặng mà suy-ngẫm, mà định tứ ngưng thần, mà trầm tư mặc tưởng, nên mỗi lần nhập định lâu đến năm ngày. Cái công phu nhập định này tức như lối ông Gandhi bên Ấn-độ : mỗi tuần lễ cứ lấy ngày thứ hai làm ngày yên-lặng, không nói, không tiếo khách.

Mộ ông là người đạo cao, đức trọng, vua Lý Thái-Tông (1028-1054) sai sứ đến mời ông với tấm lòng thành khẩn. Từ-chối không được, đến lần thứ hai, ông bất đắc dĩ phải đi. Trong khi hội đàm, rất hợp ý vua, ông được phong làm Nội cung-phụng tăng.

Trong một bữa tiệc trai ở nội-cung, trước mặt vua Lý và các vị đại đức các nơi, ông có làm bài này :

Pháp vốn như không Pháp,

Chẳng có cũng chẳng không.

Nếu biết rõ Pháp đó,

Chúng-sinh với Phật đồng.

Trăng lăng-già lặng-lẽ,

Thuyền độ-hải mênh-mông.

Biết không không và có,

Tam-muội (3) cứ viên-thông

(Dịch)

Bài đó được vua Lý Thái-Tông khen ngợi lắm.

Các vương công khanh tướng bấy giờ, vì hâm-mộ ông, đều lui tới hỏi đạo, coi là bực sư tôn.

Đến trào vua Lý Thánh (1054-1072), ông lại càng được tôn-trọng hơn.

Năm Gia-khánh thứ năm, (1063), khi sắp từ trần, ông còn làm được hai bào thơ tứ ngôn tuyệt cú nữa…Nguyên-văn có chép trong bộ “Thiền Uyển Tập Anh”, đại ý cũng là thuật cái sở-kiến để tỏ chỗ dụng tâm của mình là thế nào.

Chắc ông là một tay văn-tự đại-gia ở đời bấy giờ, nên được vua giao cho soạn văn bia ở các chùa : Thiên-Phúc, Tiên-du, Thiên-thánh, Khia-quốc, Diệu-nghiêm, Võ-ninh, Báo-đức.

Ông lại có làm được bộ “Pháp sự trai-nghi chư đạo trường khánh-tán văn”.

(Tham khảo : Thiền Uyển Tập Anh đời thứ 13; Lịch Triều Hiến-Chương, Quyển 45 ; Tùng-san trường Bác-cổ quyển XXXIV, trang 138 số 137)

Tiết chín: Mai Trức (998-1090)

Mai-Trực, đạo hiệu là Viên-Chiếu thiền-sư, người làng Long-đàm, huyện Phúc-đường, cháu bà Linh-cảm thái-hậu nhà Lý.

Từ bé, Mai-Trực đã thông-sáng, lanh-lẹ, chăm học. Về sau, theo ông Định-Hương ở núi Ba-tiêu, nghiên-cứu Phật-học. Trong vòng hơn ba năm trời, Mai-Trực tỏ ra ra là người kính thầy, mến đạo lắm. Sự tu-trì của ông sở đắc ở “Viên-giác minh kinh tam quán Pháp”

Ông có tài về khoa ngôn-ngữ : Giảng thuyết trôi-chảy như nước cuốn, mây bay.

Mộ tiếng đại đức, người ta đến học nơi ông ngày một đông đảo, gây thành một cái tùng-lâm ở bên tả kinh-đô.

Mỗi khi cắt nghĩa cho ai nghe về lẽ Thiền, ông thường đặt thành câu thơ, mượn những sự-vật cụ-thể để bày tỏ nghĩa-lý thuộc trừu-tượng. Có lắm câu rất thanh-thú, bóng-bẩy, đẹp-đẽ, tỏ ra một tay đã thâm đạo lại hay thơ. Nay xin chỉ đứng về mặt văn-chương, trích dịch ít câu để giới-thiệu cùng các bạn đọc :

Bê rào, cúc thu nở ;

Đầu nhánh, oanh xuân kêu.

(Dịch)

Kim-cốc (4) tiêu-điều, hoa cỏ héo !

Mà nay, hôm, sớm,mặc trâu, dê…

(Dịch)

Trước gió, thông reo vi-vút ;

Sau mưa, đường lội lầy-nhầy.

(Dịch)

Cây khô, xuân đến, hoa đua nở ;

Nghìn dặm thơm-tho gió thổi hương !

(Dịch)

Gió gẩy trúc sân: đàn chú Bá

(Bá-Như)

Mưa gieo hoa núi: lệ nàng tiên.

(Dịch)

 

Gió đưa tiếng sáo lùa qua trúc ;

Trăng vẽ hình non (núi) ném khỏi tường 

(Dịch)

Và :

Xuân dệt hoa như gấm,

Thu thêu lá đốm vàng !

(Dịch)

Những câu đại khái như vậy thật có giá-trị về mặt văn-chương,  còn chưa kể có cái công-dụng nói bóng về nghĩa-lý trong Phật-học là khác.

Đem theo 92 cái tuổi sang Tây-phương, ông tịch ngày tháng 9, năm Quảng-hựu thứ 6 (1090) đời vua Lý Nhân-Tông. Trước khi từ trần ông có làm bài này để tỏ quan niệm mình đối với cái chết :

Thân như tường-vách lúc tan-tành ;

Ai chẳng nao-nao cảm chút tình ?

Nếu biết tâm “không”, không sắc sắc,

Sắc, không : ẩn, hiện ? mặc xoay quanh.

(Dịch)

Trong Thiền-lâm, ông góp nhiều công vào việc trước-tác : soạn Dược-sư thập nhị nguyện văn (5), tán Viên-giác kinh, thập nhị Bồ-tát hạnh, tu chứng đạo trường và làm được tập Tham đồ hiển quyết (6).

Tham khảo : Thiền Uyển Tập Anh, thiền biểu thứ nhất, đời thứ bảy ; An-Nam Chí lược quyển 15, tờ 7; Lịch triều hiến-chương,  45 ; BEEEO  XXXII, trang 246 ; BEFEO XXXIV trang 138, 139 số 138, 139…v…v

 (Còn nữa)

HOA BẰNG

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

1) Bấy giờ chia dân-đinh ra làm ba hạng : Hạng 18 tuổi là hoàng-nam ; 17, tiểu hoàng-nam, 20, đại hoàng nam.

2) Có lẽ ở gần làng Tây phù-liệt  huyện Thanh-trì, tỉnh Hà-đông.

3) Cái chốn mầu-nhiệm huyền diệu.

4) Cái vườn chơi của phú-ông Thạch-Sùng.

5) Tập này có đưa sang Tàu, được Cao-tọa-pháp-sư nhà Tống khen phục lắm.

6) Trong mục “Thiên-chương” sách Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quý-Đôn và trong mục “Văn-tịch chí” sách Lịch-triều-hiến-chương của Phan Huy Chú chỉ thấy nói đến hai tác-phẩm của Mai-Trực : Dược sư thập nhị nguyện văn Tham đồ hiển-quyết.