Trên đường văn-học, Nguyễn Nguyên-Ức cũng đi được nhiều bước khá dài: 

Năm Đại-khánh thứ ba (11..2) chính ông soạn Bài văn bia chùa Trung-hưng diên thọ. Ông lại làm được bộ Chư Phật Tích Duyên Sự hơn 30 quyển, bộ Tăng Gia Tạp Lục hơn 50 quyển. Lại có soạn được bài Hồng chung văn bi ký. Còn thơ phú ông làm thì có đến hàng 1.000 bài. (1) 

Được phong làm Hộ-quốc quốc-sử (1143), ông được tôn trong suốt cả trong triều ngoài nội. Ngày 21 tháng 4 nhuận, năm tân-mùi, niên-hiệu Đại-định (8 Juin 1151), ông mất, thọ 72 tuổi. .

(Tham khảo: Thiền Uyển Tập Anh chi thứ 2, đời thứ 18; Lịch Triều Hiến Chương quyển 45; Gaspardone trang 86, 139, số 41, 140).

Tiết mười bảy: Phan Trường Nguyên (1109-1165) 

Ông người làng Trường nguyên, (Tiên-du), nên người ta thường lấy tên làng mà kêu ông.

Không muốn phô phang với đời, ông hồi tích ở núi Từ-sơn: mặc lá, ăn rau, ngày tháng bạn cùng suối, đá… Ông dán mắt  trên kinh sách hàng năm, sáu năm; người ta không từng thấy tăm, hơi ông đâu cả. 

Ôm chí cao-thượng, ông không muốn vương chân vào chỗ hồng trần, nên vua Lý Anh Tông (1138-1175) cũng không được cái gặp mặt Ông, mặc dầu vua đã tỏ mình thật lòng khát-khao hâm-mộ. Cái thái độ ấy của ông thật cũng như tiên-tri Đa-ni-ên (Daniel) không nhận đồ ăn, rượu uống của vua vậy.

Khi ông bị người bạn cũ, là Lê-Hối, ngầm vâng mạng vua, dụ đến chùa Hương sát để sẽ đưa vào cung-khuyết ra mắt vua, thì ông hết sức hối-hận, tìm cách trốn về ngay.

“Bởi chi hạnh mình chưa thuần. nên suýt mắc vào bẫy lưới !” Đó là lời ông tuyên bố với môn đồ sau khi đã trốn về núi. Phải, thân ông đã đét như lá khô, lòng ông đã lạnh như tro tàn, có phải là cái vật người đời đáng chuốc nữa đâu ? Ông nghĩ phải lắm !

Đề tỏ cảm tưởng mình đối với việc đó, ông có làm bài này:

Viên hầu bão tử quy thanh chướng. 

Tự cổ thành hiện một khả lượng. 

Xuân lai, oanh chuyển, bách hoa thâm ;

Thu chi, cúc khai, một mộ-dạng.

Dịch 

Hầu, vượn ẵm con về núi xanh. 

Khôn lường hiền thánh cái tâm tình.. 

Xuân về, oanh hót, hoa đua thắm, 

Riêng cúc, vườn thu cảnh bằng tanh 

Ngày 7 tháng 6 năm Chánh-long bảo ứng thứ 3 (1165), Ông mất, thọ 56 tuổi. Trước khi từ trần, ông có để lại bài thơ tứ ngôn làm kỷ niệm, đại ý nói: Minh dầu không lộ quang-mang, hòa-hợp với trần-tục, (hòa quang đồng trần), song vẫn ly trần, thoát quang mà độc-lập được. Cái tâm ông bao giờ cũng trong sạch là vì giữ được cái bản sắc tự-nhiên, chứ không vương-víu vào vật-dục…

Tiết mười ta: Bảo Giám  (? -1178) 

Họ Kiều, tên Phù, pháp-hiệu Bảo-Giám, ông, người làng Trung-thụy, có nhiều tính tốt như trung-tin, chân thực, điềm-đạm, mộc-mạc, xuề-xòa.

Thủa bé, học nho: thông cả Thi, Thư, Lễ, Dịch. Lại vẽ khéo, viết tốt, ông thật là người có học vấn, có tài-hoa. Dưới trào Lý Anh-Tông, Ông làm đến chức cung-hậu xá-nhân.

Hồi 30 tuổi, tương-lai còn hẹn ông nhiều cái sung sướng, cái tốt-đẹp trong hoạn trường…

Vậy mà, vì lòng mộ đạo, ông liền từ chức, vào tu ở chùa Bảo-phúc, làng Đa-vân,

Khi đã thụ giới làm đệ-tử Phật rồi, ông tỏ ra là người rất chịu khó, tinh-tiến và nhẫn-nại; phàm kinh tạng chùa đó đều do tay ông viết cả.

Vui lòng vác dấu chữ “vạn” theo đức Thích-ca, ông không đếm-xỉa đến phần vật-chất: bao giờ cũng chỉ mặc áo gai, không hề động đến một mảnh tơ lụa. Qua năm, chày tháng như vậy, ông không chịu chán-nản, lui bước trước cảnh khổ tu. Tóm được chữ “cần” và chữ “trí” trong Phật-học, rồi cứ nhắm theo đó mà đi cho tới đích.

Đây, hai bài ông làm khi sắp từ trần:

Tri-giả do như nguyệt chiếu thiên, 

Quang làm trần sát chiều vô thiên. 

Nhược nhân yêu thức, tu phân biệt: 

Linh thượng phù sơ tỏa mộ yên.

Dịch 

Chư phật như trăng chiếu giữa trời, 

Cõi trần, soi khắp, chẳng riêng ai. 

Nếu ai muốn biết, nên phân biệt: 

Trên núi rườm-rà, tỏa khói hơi.

Còn bài thất ngôn tuyệt nữa đại ý cũng nói về cái lẽ mầu trong đạo Phật: Phàm ai được thành cái chính-giác (2) của Phật là do có đầy-lẫy trí tuệ, biết giác ngộ lấy, chứ ít khi chỉ nhờ công tu mà được đâu. Mà cái diệu-lý của Phật-giáo bao giờ cũng sáng tỏ như mặt trời mọc ở giữa trời, có khó gì mà không nhận biết được ?

Tiết mười chính: Nguyễn Trí Bảo

Họ Nguyễn, người diên (3), Trí-Bảo là cậu ông Tô-Hiến-Thành, Thái-úy đời vua Lý Anh-Tông.

Trụ-Irì ở chùa Thanh-tước, núi Du-bi, ông, bận áo rách, ăn cơm hầm, ngày, tháng vui đạo, chú-trọng về mặt tinh-thần, không nghĩ gì đến phần vật-chất. 

Hễ thấy người khốn-khó qua đường, ông liền tỏ bộ cung-kính: chắp tay, tránh bước.

Tĩnh tu trong sáu năm, hình-dung như tàu lá khô, chân tay nhăn-nheo khô đét. Chống gậy xuống núi, ông thực hành lòng từ bi, đứng khuyến-hóa làm nhiều công-cuộc từ-thiện: bắc cầu, sửa đường, vân vân. Những việc làm đó đều ra từ tấm lòng chân-thành, chứ không có một tí gì là vì lợi dưỡng.

Dẫu đã bước lên nấc thang đạo-đức như vậy, song ông thấy mình nếu hãy còn chưa-đạt được cái tôn-chỉ tu-hành. thì công-phu bấy lâu sẽ thành vô ích. Ông tự nghĩ : Một người đào giếng đã đến chín-nhận (4), nhưng chưa đào được tới mạch thì cũng là cái giếng bỏ đi ! Huống chi tu thân nhưng không ngộ đạo thì làm gì được ! 

Nghĩ vậy, Ông bèn đến yết kiến ông Đạo-Tuệ (5) để học hỏi thêm. Khi đã giác-ngộ về lẽ mầu sinh-tử, ông Trí-Bảo có đọc mấy câu này để tỏ nỗi mừng: 

Bắt nhân phong quyển phù vân tận, 

Tranh kiến thanh thiên vạn lý thu ?

Dịch 

Nếu không gió cuốn, máy quang đãng 

Sao thấy trời xanh muôn dặm thu ? 

Chắc Ông là một người không những thờ chủ-nghĩa “tinh-tiến” của đức Thích-Ca, mà lại chịu ảnh hưởng của học-thuyết họ Lão nữa.

Đây, thử nghe Ống giảng về thuyết “tri túc”:

Không cứ xuất gia hay tại gia, ai cũng cần phải tri túc. Nếu tri túc, thì ngoài không xâm đến của người, trong không hại đến của mình. Lá cỏ dầu là một vật rất nhỏ-nhặt, nhưng cũng không nên lấy của người ta nếu người ta không cho mình. Đối với đồ vật của người khác, hễ mình nảy ý tham muốn, kết quả sẽ đến trộm cắp ! Đối với vợ con người khác cũng vậy, nếu mình nảy ý tham muốn, kết quả sẽ đến tà-dâm. Vì vậy cần phải tri túc. Theo ý đó, khi sắp mất, ông có làm một bài thơ, trong có những câu như: 

Thảo diệp bất dữ, ngã bất thủ…Dịch  Lá cỏ của người, ta chẳng lấy.. Và: An nhẫn tự tâm sinh tà khúc ? Dịch Sao nỡ trong lòng nảy tà-khúc ?

(Còn nữa)

HOA BẰNG

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

1) Những bài thơ này chắc chép trong Viễn Thông Tập 

2) Tỏ rõ được chân-đề, đến một cõi giác-ngộ. 

3) Nay là làng Hạ-mỗ thuộc huyện Từ-liêm, phủ Hoài-đức, tỉnh Hà-đông.

4) Đời xưa, người Tàu dùng theo thước nhà Châu, cứ tám thước là một nhận,

5) Chính thực là Tuệ, chứ không phải Huệ. Có lẽ vì tị húy đương thời, nên trong sách Thiền uyển tập anh thường đổi Tuệ ra Huệ.