Là người đồng – thời với Lý – Bạch, Đỗ – Phủ cùng Lý được kể là hai ngôi sao sáng trong “trời thơ”.

Tên tự là Tử – Mỹ, Đỗ là cháu của Đỗ – Thẩm – Ngôn, người Tương – đương đời Đường.

Đỗ, nhà nghèo, thi tiến sĩ lại trượt, phải nếm nhiều nỗi chua cay cả tinh – thần lẫn vật – chất.

Dưới triều Đường Huyền – Tông (713 – 755), Đỗ, vì dâng bài phú, được làm đãi – chế ở Tập – hiền – viện. Đến thời Túc Tông (756 – 762), Đỗ làm chức hữu – thập – di; rồi vì một việc phải giáng chức. Sau dần dần lại được cất nhắc lên đến Công – bộ – viên – ngoại – lang.

Sau cuộc loạn khoảng năm Thiên – bảo (742 – 755), Đỗ phải siêu – dạt trú – ngụ mọi nơi.

Bấy giờ, lo nước, nhớ vua, đau thương thời – sự, Đỗ thường nhả ra những lời bất bình, đầy giọng lâm li, khảng – khải. Đồng – thời, Đỗ cũng mượn mấy vần thơ, than – vãn nỗi mình bạc mệnh nữa !

Người ta cho thơ Đỗ có tính chất như “thi sử” vì tả rõ được bức phông rối loạn của xã hội đương thời.

Đỗ đọc sách rộng, dụng công nhiều. Tuy là thi sỹ, Đỗ vẫn chú – trọng vào thực – tế, theo lối kinh – luân của nhà nho.

Thơ Đỗ có vẻ trầm uất, hùng – kỳ, mông – mênh, man – mác, tung ra muôn dáng nghìn hình. Về cách dùng chữ, đặt câu và kết cấu thành bài, Đỗ rất khéo biến – hoá và tả – vẽ được hết thảy tư thế và hứng – thú.

Khi làm văn thơ, Đỗ tất phải khắc khổ tâm từ, tâm – ý nghiền – ngẫm, trải hàng nghìn lần tôi, muôn lượt rèn mới thành bài được.

Về lối thơ ngũ – ngôn luật của Đỗ, Trầm – Đức – Tiềm có phê – bình trong “Đương thi biệt tài” rằng: “Khí cục thì rộng lớn, dùng điển thì nhã – nhặn và thiết thực. Nhất là có chỗ này người ta không theo kịp: Tuỳ ý ngang dọc, lồng vẻ biến – hoá trong nét nghiêm – trang. Ấy đủ vượt được nghìn thủa”.

Nay, xin dẫn và dịch bài “Dã vọng” của Đỗ để giới – thiệu cùng các bạn thưởng – thức chơi. 

Nguyên văn chữ Hán:

,(1)

Thanh thu vọng bất cực

(2) 。(3)

Thiều – đệ khởi tằng âm

,(4)

Viễn thuỷ kiêm thiên tĩnh

。(5)

Cô thành ẩn vụ thâm

,(6)

Diệp hi, phong cánh lạc

。(7)

Sơn quýnh nhật sơ trầm

?(8)

Độc hạc quy hà vãn !

滿 。(9)

Hôn nha dĩ mãn lâm !

Chú giải

  1.  “Bất cực” nghĩa là không cùng. Ý tác giả muốn nói: nhân lúc mùa thu trong trẻo, một trông man mác, không biết đến đâu là cùng cực…
  2. “Thiều đệ”, tiếng phó từ, có ý là xa xăm.
  3. Cái hơi âm u mờ mờ bốc lên hết lớp này đến đợt khác.
  4. Mặt nước đằng xa phẳng lặng như màu trời yên tĩnh. Câu này giống ý câu của Vương – Bột trong bài “Đằng vương các tự” “Thuy thuỷ cộng trường thiên nhất sắc”, nghĩa là: nước mùa thi chung một màu sắc với da trời”.
  5. Cái thành trơ vơ đứng một mình chìm ngập trong lớp mù giày đặc sịt.
  6. Lá cây mùa thu đã thưa thớt, vì gió thổi rụng, lá lại càng thưa hơn.
  7. Núi đã xa, lại vì sau khi mặt trời mới lặn, sắc núi lờ mờ, trông lại càng như xa hơn.

    (8,9) Một con hạc bay về sao mà muộn thế ! Kìa, đàn quạ về hôm đã đậu nhan nhản đầy rừng rồi.

 

Dịch ra thơ lục bát

Thanh thanh dưới bóng trời thu

Mắt buông: man – mác, mịt – mù xa khơi

Nước im trộn lẫn da trời;

Ẩn trong mù đặc, thành côi lờ mờ.

Lá thưa, gió đập càng thưa,

Núi xa vừng nhật lại vừa ngậm gương

Bay về, sao hạc muộn màng ?

Quạ hôm nhan nhản đậu đang đầy rừng !

 

Suốt bài này tác giả tả những cái mắt thấy trong khi đứng ngoài đồng mà trông ngó:

Một trông: nước man mác, trời lặng lẽ, bốn bề rộng rãi thênh thang!

Hai trông: thành côi lẩn trong mù giày, mê ly ẩn hiện…

Ba trông: lá rụng, cành khô, đầy vẻ tiêu sơ, hiu quạnh !

Bốn trông: núi cao, mặt trời lặn, cảnh vật dần chìm trong bóng tối.

Bấy giờ, trời đã tối, chim ngàn về hôm. Đàn quạ đậu đầy cả rừng chiếm được địa vị yên ổn. Còn riêng con hạc một mình về muộn, sao mà côi quạnh, lẻ loi !

HOA BẰNG

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)