Tiếp theo của phần I

(Có kèm bản đồ để tiện kê cứu)

Thăng  Long dưới triều Trần

Năm Canh Dần (1230) đời vua Thái Tông nhà Trần, có đắp lại thành Thăng Long và lập ra hai cung: Cung Thánh Từ để Thượng-hoàng ngự; cung Quan triều để Hoàng đế ngự.

Năm Quý Mão (1243) Thiên Ứng Chính Bình thứ 12,lập ra thành Long Phụng.

Năm Mậu Thân (1428) đời Lê Thái Tông, Thuận Thiên năm đầu, lập ra điện Kính Thiên ở giữa đỉnh núi Nùng Sơn (hoặc gọi là núi Long Độ), điện Vạn Thọ và điện Cần Chính ( xem lại bản đồ 1 đăng ở T.T số 10).

Năm Ất Dậu (145) đời Lê Thánh Tông, Quang Thuận thứ sáu sửa lại điện Kính Thiên, và lập ra điện Cẩn Đức.

Năm Đinh Dậu (1477) Hồng Đức thứ tám, đắp lại thành Thăng Long theo vị trí như sau này: Phía nam tới đến Văn Miếu, phía bắc đến sông Tô Lịch (tức phố Tô Lịch bây giờ).

Vị trí thành Thăng Long đời vua Lê Đức

Bản đồ số 3, – 1 Thành cũ Hà Nội,  2 Phủ Toàn quyền. 3 Đền Trần Vũ. 4 Hồ Trúc Bạch. 5 Hồ Tây. 6 Ô Yên-phụ. 7 Yên Thái. 8 Ô Cầu giấy. 9 Đền Linh Lang. 10 Ô chợ Dừa. 11 Phủ chúa Trịnh. 12 Nhà gare. 13 Hồ Hoàn Kiếm. 14 Đền Văn  miếu. 15 Ô Đồng Lâm. 16 Cầu Dền. 17 Ô Đồng Mác, 18 Cầu Doumer. 19 Đền Hai Bà. 20 Ấp Thái Hà. 21 Ngã tư sở.

phía đông từ làng Đức môn tổng Đồng Xuân (phố cửa Đông bây giờ), phía tây khởi từ làng Nhật Chiêu.

Năm Hồng Thuận (1309) đời Tương Dực Đế, xây thành bao vây cả sông Tô-lịch. Năm sau, lại xây bao cả đền Trắc Vũ, phường Thiên hoa và phường Kim cổ để làm thành, rộng hơn nghìn trượng. Từ phía đông đến phía tây bắc, qua cả sông Tô-lịch, trên đắp làm hoàng thành, dưới để làm ngòi dẫn thủy. có thể chở được thuyền bè. 

Năm Nhâm Thân (1512). Hồng Thuận thứ tư, lập ra Cửu Trùng Đài.

Đời Mạc đắp thành Đại La làm ba tầng lũy 

Nam Đoan Thái (1586-158-) nhà Mạc đắp lại thành Đại La ra ba tầng lũy. Công việc vĩ đại, làm ngót một năm mới xong. Bắt đầu từ Nhật Chiêu, Tây hồ đến cầu Dừa, cầu Dền, xuốt sông Nhị Hà qua địa phận Thanh Trì về phía tây bắc, cao hơn thành Thăng Long đến vài trượng, rộng hai mươi nhăm trượng. Đến khi Mạc Mậu Hợp bỏ thành chạy, chúa Trịnh Tùng cho san phẳng, thành bình địa đến vài nghìn trượng.

Đời Lê Trung Hưng, Thăng-Long được đắp lại ngoại thành

Năm Ất Dậu (1585) Quang Hưng thứ tám, đắp lại thành Thăng Long.

Năm Kỷ Tỵ (1719). Cảnh-Hưng thứ mười, thấy chốn kinh thành là nơi trọng yếu, mà hào lũy bao bọc đã bị san phẳng, không lấy gì che chở cho nội thành được, các nhà cầm quyền bấy giờ bèn nhân vết cũ, lại cho đắp lại ngoại thành: rộng bẩy nghìn bẩy trăm sáu mươi hai tầm, mở ra hai mươi mốt cửa ô. Vết thành cũ hiện giờ vẫn còn.

Triều Minh Mệnh đổi Thăng Long làm Hà Nội

Năm Giáp Tí (1804), Gia Long thứ ba, xây lại thành Thăng Long. Nguyên vì nội thành của nhà Lê đã đổ nát, chỉ còn cửa Đại Hưng ở phía nam và cửa Đông Hoa ở phía bắc, nên vua Gia Long mới sai xây lại thành Thăng Long: Chu vi 432 trượng, cao một trượng một thước hai tấc, chung quanh có hào rộng bốn trượng. Lập ra hành cung chính điện hai tòa (ngay chỗ điện Kính Thiên của nhà Lệ khi trước), tả hữu vu mỗi bên một tòa. Mặt sau lập nội điện ba tòa, tả hữu vu mỗi bên hai tòa. Phia sau cùng lại lập ra Tỉnh Bắc Lâu. Ngay trước chính điện thông ra cửa Đoan Môn, có xây một con đường đi, Tấm bia đá có chữ “Đoan Môn” là di tích của nhà Lý còn lại vậy.

Thành mở ra năm cửa: Chính đông, Chinh tây, Chính nam, Chính bắc, Đồng nam và Tây nam.

Bản đồ số 4

  • Phỏng đoán La Thành của Trương Bá Nghi đắp năm 787. (Xem thêm Nước Nam số 65).
  • Phỏng đoán La Thành của Cao Biền năm 866.
  • Phỏng đoán La Thành về đời Lý, Trần, Lê (1009-1788 ).
  • Đại La Thành về hồi Tự Đức (1848-1883) 

Trên có thủ lâu, dưới có hào sâu, cầu bắc qua hào xây bằng gạch, bên ngoài lại có lần thành thấp để che các lối cửa ra vào, Trông ra vẻ tráng lệ lắm.

Năm Minh Mệnh 12 (1831) đổi Thăng Long làm Hà Nội, nên đời bấy giờ thường gọi là Hà Nội tỉnh thành.

Năm Quý Mão(1848) Thiệu Trị thứ bẩy đổi hành cung làm điện Long Thiên. (Xem lại bản đồ số 2 ở T, T. số 10).

Năm Mậu Thân (1848), Tự Đức nguyên niên, vì việc sứ tàu sang phong vương, nhà vua đã cho dỡ phá hầu hết những cung điện ở trong thành đi. Thực là một việc đáng tiếc ! 

Năm Quý Dậu (1873) và Quý Mùi (1883), sau khi quân Pháp hạ thành Hà Nội được ít lâu, thì thành trì phá bỏ. Nay ta chỉ thấy còn một ít vách thành của Bắc phố Carnot thôi. 

Ấy cuộc đổi thay của thành trì nó đã xúc động biết bao tấm lòng hoài cổ (Xem bản đồ số 3) (1).

HẾT

Biệt Lam TRẦN HUY BÁ 

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

(1) Bản đồ số 1 – Theo sách Càn khôn nhất lãm của Đông Dã Tiêu. Bản đồ số 2 – Theo sách Thiên nam tứ chí của ty đê chính triều Tự Đức. Bản đồ số 3 – Theo bản đồ thành phố Hà Nội của sở Địa dư Đông dương.