Cái tháng cuối năm theo âm lịch này không những có một ý nghĩa vô cùng trọng đại đối với cuộc nhân-sinh hiện tại của người mình, mà nó lại có quan-hệ đến cả chinh lệnh giáo hóa của dân tộc Việt-nam trong thời kỳ quá khứ nữa. Vậy nhân dịp, chúng ta tưởng cũng nên thử khảo cứu xem lại lịch và ý nghĩa của tháng chạp này. 

Tiếng “chạp” là do chữ “lạp” 臘 trong hán-văn trật ra, vì trong tháng mười hai là tháng cuối năm có lễ tế chạp là một nghi-lễ rất trọng ở thời đại cổ. Việt-văn có tiếng “giỗ chạp”: chính ra từ hai chữ “kỵ lạp”. Mà “tháng chạp” thì tức là “lạp-nguyệt”  臘 trong chữ nho.

Theo chế-độ xưa, tháng “chạp” có nhiều việc quan-trọng về chính trị, về kinh-tế và về tôn-giáo.

Sách Chu-lễ thiên Thiên quan chép rằng: “Tuế chung, tắc linh

bách quan phủ các chính kỳ trị,  thụ kỳ cối…” (Cuối năm thì ra lệnh cho trăm quan-phủ đều phải làm cho ngay thẳng việc chính-sự của mình và tiếp nhận việc tính-toán của mình )

Cũng sách ấy, đến thiên địa quan lại chép: “Tuế chung tắc linh lục hương chi lại giai cối chính, trí sự” (Cuối năm thì ra lệnh cho các tư-lại sáu hương (làng đời xưa) đều phải tính-toán công việc và đưa đến các văn thư về chính-sự).

Trong Nguyệt lệnh nói về việc làm trong tháng quí-đông (tháng chạp) có chú-trọng về việc nông là gốc nền kinh tế đời xưa: Ra lệnh cho nhân dân đem ra giống ngũ cốc, bảo nông dân lường tính về công việc ngẫu-canh (hai người cùng cày); sửa cày, bừa ; sắm đủ đồ làm ruộng.. )

Ý nói bấy giờ đã sắp-sửa bước ở sang tiết xuân, nhà nông phải sửa la soạn công việc làm ruộng dưới ánh dương đầm-ấm sắp tới. Cho nên thì giờ trong tháng chạp này rất quí đối với nhà nông; người cầm vận mệnh một nước phải, nên giữ cho việc nông được chuyên nhất, chứ đừng bắt nông dân phải làm xâu dịch gì khác. 

Để khuyến-khích và vỗ về họ, các vương giả đời xưa có đặt ra là lễ tế chạp làm trong tháng mười hai hằng năm. Lễ tế ấy, ngoài ý nghĩa cầu sự may-mắn cho nông dân, lại còn có ý dùng nó làm bữa tiệc để khoản đãi úy-lạo nông dân nữa.

Cùng một lễ ấy, mỗi đời kêu tên một khác: Nhà Hạ (2224-1767 trước T.L) gọi là Thanh tự 清祀; nhà An (1766-1123 trước T.L) gọi là Gia-bình . ; nhà Chu (1122 249 tr, T.L) gọi là Trá 蜡.Tần (249 – 207 tr.1. L) gọi là “lạp” .Vì thế, tiếng ta mới có chữ “chạp” như trên đã nói.

Theo thiên Giao-đặc-sinh trong Lễ-ký, thì lễ tế chạp, bắt đầu từ vua Nghiêu (2357-2284 tr. T.L.) đặt ra. Chạp nghĩa là tìm xét mà tế những thần có công, chẳng hạn như Thần Nông là vị thần dạy dân cày cấy trước tiên (Tiên sắc), Cổ Hậu-Tắc là vị thần giữ việc canh-nông (Tư sắc), và vị thần gữ về bách cốc (Bách chủng). Hàng năm, lễ tế chạp âu làm vào tháng mười hai-theo quan niệm người xưa – là tháng bế tàng: muôn vật sau khi thành công, đã trở lại cội gốc. 

Cho nên, vương-giả làm lễ chạp ấy để bảo đáp Thần-minh và úy lạo nông-dân. 

Lễ này vẫn được coi trọng ở đời đức Khổng-tử. Nhưng vì lưu truyền lâu ngày, người ta quên lửng cả tinh-thần của lễ chạp đến nỗi một tay cao-đệ ở Khổng-môn như ông Tử-Cống cũng còn không nhận thấy được cái ý nghĩa của nó dưới con mắt quan sát tinh tường.

Một hôm có lễ chạp. Ông Tử Cống đến xem lễ ấy.

Đức Khổng-tử hỏi ông Tử-Cống:

– Tử (tên ông Tử-Cống) ơi ! vui không ?

Tử-Cổng thưa :

– Người suốt một nước đều như điên-rồ. Tử này chưa biết cái gì là vui cả !

– Trăm ngày vất vả mới có một ngày được hưởng ơn-trạch là ăn lễ chạp. Cái vui ấy không phải là điều người biết được ! (Trích dịch thiên Tạp ký hạ XXI trong sách Lễ ký).

🔹

Xưa kia, chịu ảnh-hưởng của văn-hóa trung-hoa, nước ta, đối với tháng chạp, cũng coi là một tháng đặc-biệt khác thường:

1) Việc hành chính. 

Đầu đời Tự-đức (1848-1883), hằng năm, cứ đến tháng chạp thì giấy tờ việc công, sớ, tấu, văn-án rất là bề bộn phân-phiền ! Đó vì việc công trong một năm, các nha-môn thường làm không chạy, cứ để đọng mãi đến tháng chạp; rồi thấy năm hết tết đến, ngày “phong ấn” (gói con dâu lại, nghỉ việc đề ăn tết) sắp tới nơi, bấy giờ mới hấp tấp làm vội, cầu cho chóng xong.

Chính vua Tự-đức xét ra rằng “những tập tấu-nghị và án-kiện dâng lên bấy giờ phần nhiều là sự lý lèng-bèng, giấy-tờ chữ-nghĩa bề bộn. Những kẻ thừa hành ở dưới đã thấy kiệt sức, thì tựu trung bàn-định xét-xử việc gì há được mười phần ổn-thỏa chu đáo ? Nghiệm ngay như một vụ án do bộ Hình duyệt xong vừa mới đăng trình, đã vội nhận lỗi lập tức ! Thế há không phải là lầm-lạc thất-thổ đấy ư ?… ). 

Vì vậy, vua Tự-đức phải dụ rằng: “ Từ nay về sau, phàm hồ sơ bản án do các tỉnh đã kết rồi mà đệ lên đều phải theo đúng như lệ cũ là cứ cuối tháng một đã phải đến Bộ rồi. Còn như các chương, sớ tầm-thường và sổ sách tiêu-thủ ở các nha-môn cũng cần phải một loạt đệ lên tấu trình trước thượng tuần tháng chạp. Ở kinh, việc làm cũng phải theo như thế…” (Căn cứ vào tờ dụ “Chư nha biện sự bất đắc nhất tuần” ra năm Tự-đức thứ ba, 1850),

2) Việc ban niên-lịch

Tháng chạp, có việc ban phát niên lịch cũng là việc trọng. Hằng năm, từ thượng tuần tháng năm, Khâm thiên-giám phải gửi ra mẫu lịch, giao cho Hà-nội mua giấy mực và mượn thợ khắc khắc gỗ, rồi in, Đến tháng chín thì phát giấy vàng để đóng bìa. (Việc giao Hà-nội in lịch này định từ năm Minh-mạng mười ba, 1832).

Lễ ban và nhận lịch cử-hành vào ngày mồng một tháng chạp. Đúng ngày ấy, các trấn-quan đều phải bận triều-phục,đến Hành cung, hướng về bắc khuyết mà lạy, gọi là vọng bái, rồi nhận lịch do triều-đình ban-phát ra. (Việc ban lịch này định từ năm Giao Long thứ tám, 1809).

3) Việc tảo mộ và tế chạp ở dân quê

Trong tháng chạp, ngoài mấy việc có quan-hệ đến chính lệnh do quốc-gia đứng làm, còn có những việc thuộc tôn-giáo, thuộc phong-tục hãy còn tồn-tại ở dân-gian từ xưa đến giờ. Tôi muốn nói đến việc tảo mộ và tế chạp.

Nhưng, tế chạp bây giờ người ta rút hẹp vào trong phạm-vi gia tộc. Các nhà thờ họ, thường đặt một ngày trong tháng chạp, làm lễ “tảo mộ”: con cháu đem nhau đi thăm mộ, giẫy cỏ, đắp đặt, thắp hương, dâng hoa ở nơi yên-nghỉ của tiền-nhân; rồi về từ-đường, làm lễ tế chạp trước bàn thờ tiên tổ, khi thụ-phúc, con cháu cùng nhau chuốc chén say-sưa, mua lấy những phút điên rồ như bữa tiệc “Trá” ở đời Xuân-thu dưới mắt ông Tử-Cống. 

Ngoài những việc kể trên, tháng chạp lại còn là kỳ tính công-lệnh, xét kết quả việc làm và thu xếp mọi cuộc kinh-doanh nữa. Nên ca dao có câu: “Trở về một, chạp tính công hoàn thành”.

🔹

Vẫn tháng chạp ấy, nhưng thời buổi nay đã khác xưa. Từ công sở đến tư-gia bây giờ, đâu đâu cũng dùng theo dương lịch. Tháng chạp ngày nay mất hẳn cái nghĩa thiêng liêng như ngày xưa nữa. Dầu vậy, giữa thời-đại máy-móc, thế-giới cạnh-tranh này, ở xã-hội ta, bao cái lưu-phong di tục vẫn còn sống và động, nhất là ở trong tháng chạp hằng năm.

Đây, những cái mắt thấy: Bắt đầu từ mồng một tháng chạp, trên lề đường phố Hàng Bồ,những ngòi bút lông lại một phen hoạt động. Trên mặt giấy hồng-điều lại ra mắt khách qua đường những câu đối sáo từ nghìn xưa để lại.

Xen vào bên những tờ giấy đỏ mực đen, người ta lại điểm thêm những tấm tranh tết lưu-truyền cải dấu-vết của nền  “mỹ-thuật” cổ. Tháng chạp năm nào cũng vậy, cũng cần bấy nhiêu tấm tranh, bấy nhiều nét vẽ, người ta cứ kéo dài mà không đổi mới dưới mắt nhi-đồng. Chúng ta cũng như đời các cụ-ku, con cháu chúng ta cũng như lớp chúng ta, ai nấy, không hơn không kém, chỉ được thưởng ngoạn bấy nhiêu nét sặc-sỡ không điều-hòa !

Nếu chịu tiến theo thời-gian, thì từ câu đối tết đến tranh tế cần phải được tay hay nôm và nhà mỹ thuật sửa-đổi cho thích-hợp hơn.

Ngoài cảnh tấp-nập gọt thủy-tiên, sắm hương ngát, chọn pháo kêu, chạy gạo tết của nhà quê kẻ chợ, trong làng văn, làng báo có cái quang cảnh náo-nhiệt và bận-rộn khác thường.

Từ các nhà cầm bút đến dân thợ nhà in, ai nấy đầu tắt mặt tối, hết sức hoạt-động, hoạt-động làm sách tết, báo tết…

Phải, sau khi làm tròn công việc một năm, chúng ta cũng nên có những giờ phút nghỉ-ngơi để đón chào Xuân mới.

Nhân dịp tiết đông lạnh-lẽo sắp qua, Xuân mới sắp khoác cho cây cỏ non sông những tấm áo bằng màu-sắc xinh-tươi,rực-rỡ,Tri-Tân chúng tôi, đến ngoài 20 tháng chạp, sẽ in hiến các bạn đọc thân-yêu một món quà thưởng xuân đầy hứng vị: số xuân Nhâm-ngọ(1942).

HOA BẰNG

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)