Trong các vị Thần, có lẽ người Việt quen thuộc nhất với Thần Tài, dù kinh doanh hay không, người Việt thờ cúng Thần Tài quanh năm suốt tháng. Đặc biệt là đầu năm, sau Tết Nguyên Đán là có những người đi khắp đền nọ, phủ kia để cầu tài cầu lộc. Phát tài dường như là mục đích lớn nhất của đời người.

Chân dung Phạm Lãi. (Ảnh: Wikipedia)

Thần Tài là ai? 

Thần Tài có nguồn gốc Trung Hoa. Đại phu Phạm Lãi là danh sĩ thời Xuân thu Chiến quốc. Người bình thường biết đến Phạm Lãi không nhiều lắm, nhưng ai cũng biết Tây Thi. Tây Thi là vợ của Phạm Lãi. Câu chuyện về Tây Thi phổ biến trong văn hóa các nước Đông Nam Á. Nàng đã theo kế của Phạm Lãi, từ nước Việt đến nước Ngô để mê hoặc Ngô vương là Ngô Phù Sai, giúp Việt Vương Câu Tiễn phục quốc, khiến nước Ngô hùng mạnh bị diệt vong. 

Phạm Lãi là người thông tuệ, học thức và có vai trò quan trọng trong việc giúp Việt Vương Câu Tiễn tiêu diệt nước Ngô. Sau khi Việt Vương trở thành bá chủ thời hậu Xuân Thu, Phạm Lãi thoái lui đi đến nước Tề khai hoang buôn bán. Nhờ sự thông minh, trí tuệ hơn người ông trở thành đại phú. Buôn bán được mấy năm thì phát tài, sau khi phát tài bèn đem của cải cứu giúp nhân dân đói nghèo, tức là tán tài, đi khắp nơi kết duyên, bố thí, cúng dường. Bố thí hết rồi, từ món vốn nhỏ nhoi lại buôn bán, sau hai ba năm lại phát tài, người xưa gọi ông “tam tụ, tam tán” có nghĩa là ba lần đại phát tài, ba lần phân chia hết tài sản. Mấy năm sau lại phát đạt, lại còn phát tài nhiều hơn trước, phát tài rồi lại tán tài, tam tụ, tam tán. Vì thế, người Trung Quốc coi ông ta là Tài Thần, trong quá khứ thờ Tài Thần là thờ Phạm Lãi. 

Như vậy trong quan niệm cổ nhân thờ Thần Tài là việc thể hiện lòng biết ơn một người có tâm đại Thiện, rộng lượng, sẵn lòng xả bỏ của cải để cứu giúp người khác không hề so đo toan tính; thờ Phạm Lãi là để nhắc nhở thương nhân ý nghĩa của việc kinh doanh, mục đích của sự giàu có là để có thể hành thiện giúp người. 

Thờ Thần hay thờ Tiền

Từ một tập tục mang ý nghĩa nhân văn, ngày nay người ta chẳng quan tâm đến nguồn gốc đạo lý sâu xa mà cải biến nó theo thói quen mưu cầu vật chất, dường như đã biến thành một kiểu tôn thờ mới. Thần Tài đã bị biến tướng trở thành một ông thần có thể ban phát tiền vàng của cải; thế rồi người ta mua vàng để xin ‘vía’ may mắn tiền bạc. Mấy ai trong số họ biết đến nguồn gốc của ông Thần Tài không phải là mưu cầu mà là xả bỏ?

Lòng tham đã biến tập tục giàu tính nhân văn thành một hành vi mê tín; một câu chuyện giáo dục đạo hạnh sâu sắc của người xưa bỗng trở thành một trào lưu thể hiện sự suy thoái về văn hóa; những chuyện tương tự như thế này ngày nay đã trở thành vô cùng phổ biến. 

Xưa kia Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từ bỏ danh gia vọng tộc quyền quý giàu sang nơi cung điện để đi tìm Đạo, mong muốn chúng sinh thoát khổ sinh ra bởi tham, sân, si. Vậy mà ngày nay, có những đệ tử của Ngài biến chùa chiền trở thành nơi cho chúng sinh mê mải cầu tài cầu lộc. Dâng lên ban thờ cửa Phật chút “lễ bạc”,  rồi cầu xin đủ thứ: nào sức khỏe, bạc tiền, nào công danh, tình ái… 

Có nhà chùa còn kêu gọi Phật tử làm những việc trái với kinh điển Phật giáo như “cúng dường để thoát nghèo”, “cúng online”, “mở tài khoản cho người dân thanh toán bằng ví điện tử”, cúng sao giải hạn. Kinh điển Phật giáo không đề cập đến dâng sao giải hạn. Vậy mà có những chùa bỗng nổi tiếng bởi vì chuyên nhận dâng sao giải hạn. Nếu việc dâng sao giải hạn hiệu quả thật, việc xem ngày giờ tốt là có thật, việc xem tuổi, hợp mệnh là đúng thì ai cũng giàu có, thành công, khỏe mạnh, vui tươi, hạnh phúc. Đâu có cảnh bệnh tật, chết chóc, đâu có cảnh phá sản, ly hôn… đầy rẫy như ngày nay.

Có lẽ bởi thế nên Đức Thích Ca Mâu Ni đã nói 2000 năm sau khi ông không còn tại thế thì nhân loại bước vào thời mạt Pháp?

Trào lưu cầu tiền phát tài là biểu hiện của sự sùng bái vật chất; đó không phải là thờ Thần mà là thờ Tiền. Thứ tôn giáo mà ngày nay người ta thực sự thờ là tiền bạc, chứ không phải Thần thánh; vì tiền bạc mà dám đem Thần thánh cải biến để phù hợp với lòng tham vô đáy của con người; cũng như chẳng ngại ngần dùng mọi thủ đoạn để có được tiền bạc, địa vị, danh vọng. 

Người ta lấy bụng phàm trần để đo lường tâm Phật, cho Thần thánh cũng chẳng khác gì mấy ông quan tham ở hạ trần nên dễ dàng hối lộ cho một ông thần sẵn sàng thiên vị, ban phát tiền tài cho cho những kẻ biết luồn cúi. Chẳng lẽ Thần, Phật cũng “đổi chác” để lấy những đồng tiền lẻ, mấy chỉ vàng lẻ mà con người dâng cúng để rồi cấp tiền tài phúc lộc cho họ mà không căn cứ gì vào sự cố gắng lao động cần cù chăm chỉ, chân thật, thiện tâm của người? Thế thì đạo lý của Phật ở đâu? 

Quan Công vì sao được thờ như Thần Tài

Ở Đài Loan cũng thờ thần tài nhưng không phải Phạm Lãi mà là Quan Công. Quan Vũ xuất thân từ võ tướng, không làm ăn kinh doanh, vậy thì tại sao lại trở thành Thần tài? 

Quan Công được gọi là “Trung Nghĩa Thần Vũ, Linh Hữu Nhân Dũng, Uy Hiểm Quan Thánh Đại Đế”. Quan Công không liên quan gì đến phát tài. Quan Công tượng trưng cho nghĩa khí. Người Đài Loan thờ ông như Thần Tài là với ý nghĩa ban đầu vì sự kính ngưỡng chữ Tín, chữ Nghĩa của một bậc chính nhân quân tử, để nhắc nhở người làm ăn dù bán buôn cũng phải luôn tôn trọng Tín Nghĩa. 

Thời xưa, thương nhân chân chính đều rất xem trọng uy tín và danh dự. Họ coi việc giữ gìn chữ tín chính là sinh mệnh của mình. Trong 4 nguyên tắc đạo nghĩa của người xưa, có một đạo dành cho người kinh doanh, đó là: “Thương Đạo thù Tín”, tức là đạo kinh doanh đền đáp cho người biết giữ chữ Tín.

Cũng như người Trung Hoa thờ Phạm Lãi làm Tài Thần như biểu tượng cần học tập của doanh nhân, biết nghĩ đến lợi ích của người khác thì mới có thể phát tài, của cải phải vì quảng đại quần chúng, mới thật sự phát tài.

Khổng tử đã giảng, “Thấy lợi xét nghĩa”, “Làm giàu bất nghĩa đối với ta cũng tựa phù vân”, “Người quân tử hiểu tầm quan trọng của nghĩa, kẻ tiểu nhân chỉ biết sự quan trọng của lợi.” Những thương nhân thời xưa ở Trung Quốc quý trọng lời dạy của Nho giáo vốn tin vào nguyên tắc “Người quân tử muốn của cải sẽ kiếm nó bằng con đường ngay chính”.

Phạm Lãi của nước Việt

Những doanh nhân chân chính đều thực sự noi theo tấm gương của Phạm Lãi, Quan Công. Trong lịch sử Việt, Lương Văn Can được xem như người thầy đầu tiên của giới doanh thương. Tinh thần xả bỏ, dùng tài năng kinh doanh của mình để giúp người khác của Thần Tài Phạm Lãi thể hiện trong triết lý kinh doanh của Lương Văn Can: kinh doanh chính là để phụng sự xã hội. 

Cụ Cử Lương khuyên các nhà buôn phải biết dùng đồng tiền đã kiếm được để phục vụ xã hội. Người làm kinh doanh cần phải cần kiệm, song lại cũng phải biết tiêu tiền – tức là biết biến những đồng tiền mồ hôi nước mắt của mình thành những giá trị. “Mình thời kiệm mà chu cấp cho người; chỗ nên tiêu thì dẫu nhiều tiền cũng đừng tiếc; chỗ không nên tiêu thì dẫu ít cũng đừng hoang phí; thế thời cơ nghiệp chẳng nát mà ân đức mới rộng, như cứu người nạn, giúp người ngặt, cho người nghèo, thương người khổ; những việc thiện đó là chỗ nên tiêu tiền đó; còn như phồn hoa tốt đẹp kiêu xa dâm đắm những việc ác ấy là chỗ không nên bỏ tiền đó, hay chứa của mà lại hay bỏ của thế là ta sai khiến được của…”

Của cải và sự giàu có luôn phải đến từ lao động và trí tuệ của con người. Đó là một thứ nhân–quả, là đạo của tự nhiên. Nó nhắc ta tự lực, tự tin, tự chủ. Và đạo lý kinh doanh cao nhất không bao giờ là vì mình mà là vì người, không phải cầu cho mình và ở việc cho người. Nếu như không vì lòng tham mà biến đổi ý nghĩa của những câu chuyện đạo hạnh của người xưa, hẳn là ngày nay người ta đã biết Thần Tài thực sự bảo hộ ai.

Thành công hay thất bại không do ai ban phát mà do chính mỗi chúng ta tạo nên. Tất cả đều bắt nguồn lời nói, suy nghĩ, việc làm, thân, khẩu, ý của mỗi người. Bởi vậy, Đức Phật chỉ dạy con người quay trở về với bản nguyên của chính mình, thực hành lẽ sống bằng sự hiểu biết về Đạo làm người thuận theo Thiên lý chứ không phải những niềm tin mù quáng.

 Lam Khanh