CI Than nghèo 

(ba bài) (1) 

1- Chẳng phải rằng ngu, chẳng phải đần,

Bởi vì lúng-túng hỏa lần-thần. 

Cũng mong giàu-có thì chưa gặp,

Vẫn muốn phong-lưu ngộ lúc bần. 

Gương nộ toan soi cho đẹp mặt, 

Phấn kia không nhẽ để giồi chân ! 

Cao dày sao chẳng soi cho khắp ?

Vì nhẽ chi mà ở chẳng cân ? 

2 – Cũng dòng tai mắt, cũng đầu đen,

Bởi kém giờ sinh hóa phận hèn. 

Gặp dịp mau nhờ khi có của, 

Sa cơ vì bởi lúc không tiền. 

Đói no đành chịu không ai biết, 

Lành rách cho thơm có kẻ khen. 

Hễ hết bĩ rồi thôi lại thái,

Lọ là kèn cựa bởi bon chen ! 

3 – Vì chưng chẳng có hóa thân hèn,

Hồ với anh em chúng bạn quen. 

Thuở trước chơi-bời còn quyến-luyến, 

Bây giờ đi lại dám mon-men. 

Giàu-sang âu-yếm tình quen thuộc, 

Nghèo khó thờ-ơ, dạ bạc đen. 

Vì thế trong tay tiền bạc có, 

Nói dơi chuột cũng chán người khen ! 

(Trích ở quyển Quốc-văn tùng ký. Sách viết bằng chữ nôm của Trường Bác-cổ, số AB 838, quyển thượng, tờ 102b – 103a).

CII Tứ tuyển kim thanh (2)

Xuân 

Gió hòa mưa thụy thuận mười phần, 

Vạn tượng nào đâu chẳng gội nhuần. 

Quỳnh-uyển rỡ-ràng phong cầm sắc, 

Phượng-thành bỡ-ngỡ ánh thanh vân. 

Đợi nơi lừng-lẫy nghênh tân khánh, 

Tam cối xum vầy lạc tri nhân. 

Mừng gặp tiết lanh tô hạn háo, 

Mạc đau thong thả dưỡng thiên chân.

Hạ 

Tượng thể kiền hanh vốn diệu-quang, 

Trưởng doanh là gỡ nhạt thư trường: 

Rờn-rờn thụy trúc khoe màu tốt, 

Thô-thố hồng liên gióng tán dương. 

Trưởng dục ân nhiều ân rộng khắp, 

Tư vinh đức cả đức khôn lường. 

Phỉ chưng muôn vật tình ngong-ngòng. 

So với quân-thiên há chẳng nhường.

Thu 

Sớm gió kim-phong, úa chẳng sai, 

Mát về hơi nắng đã dai-dai. 

Hành-dương dợn-dợn nhàn bay liệng. 

Bành-trạch chân-chân cúc rỡ tươi. 

Địch thét lo-le màng rủ nguyệt, 

Ca xoay ảnh-ỏi khéo chiều người. 

Nước giời một thức rành rành tỏ, 

Lai-láng lòng thơ bút ngợi bài.

Đông 

Lường biết huyền-cơ tín linh hành, 

Quanh vần suốt suốt tới tam thành, 

Tượng nguyên-hoành ứng hây-hây lạ, 

Cành vạn-niên đua rẻo-rẻo xanh. 

Suốt được quần-phương vầy thói hậu, 

Dùng ra ngũ chính vỗ dân lành, 

Suy xem tự tiết phân-minh bấy, 

Âm nhạc dương sinh nhẽ chỉn đành.

(Trích ở quyển Ngự-đề Thiên-hòa-doanh bách vịnh của Trịnh-Căn, sách viết bằng chữ nôm của Trường Bác-cổ, số AB 5a4, tờ 25b-26b).

(Còn nữa) 

Ứng hòe – NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941) 

1) Ba bài than nghèo không lấy gì làm cổ cho lắm, tôi đã tìm trong một vài quyển sách và một vài quyển tạp chí xem như chữa đậu in cả.

2) Thơ Trịnh-Căn (1682-1709) in ra quốc-ngữ lần này là lần đầu.