XCII Tô thị hồi văn (1) 

Chàng vâng chiếu sai ra biên-ngữ, 

Tiễn chàng đi tới giữa hà-kiều. 

Ngậm-ngùi sẽ dặn mấy điều: 

Ân-tình chớ nỡ bỏ liều đi lâu? 

Ai hay đâu chảy rồi tin vắng ? 

Bức bình-vi chút chẳng hơi quân ! 

Thêm quynh vẻ biếc in ngần, 

Màn san-hô đó, hồng-trần chan-chan. 

Nỗi ly-biệt động bàn thêm hãi . 

Mong chốn nào được lại gặp người: 

Một xin làm nguyệt bể khơi, 

Một xin làm áng mây trôi đầu ghềnh 

Mây kia với mặt mình thường gặp, 

Nguyệt kia từng soi khắp đòi nơi. 

Bên chàng đi lại chẳng dời,

Dẫu nghìn muôn dặm xa khơi thấy liền, 

Đường thăm thẳm cách miền sơn hải

Giận nỗi chàng khách mãi phương xa 

Khi đi lau mới vàng pha, 

Lại nay mấy độ mai hoa trắng rồi ! 

Hoa man-mác gặp hồi xuân nở, 

Ý xuân này biết giở cùng ai ? 

Vi chàng cảnh liễu vin hoài, 

Hoa rơi đầy đất, vắng người phù chi ! 

Sân xuân thảo xanh-rì một lượt, 

Ôm đàn tranh tha-thướt họa đường: 

Vì chàng này khúc tư-hương ! 

Giọt tình gửi tới sóc-phương đó cùng: 

Sóc-phương đó non sông cách trở, 

Muôn dặm xa, tờ chữ ai mang ? 

Giọt châu trên gối ngân-trang, 

Xiêm thêu mấy cảnh hoa vàng rất cao, 

Vắng nghe tiếng xuân hồng qua bến, 

Tình li-nhân đau đến nhường nào ! 

Huyền còn, ruột đã như bào, 

Oán lâu, huyện chửa lựa vào khác xong 

Chàng nhớ thiếp, tấm lòng này nặng, 

Thiếp nhớ chàng cũng chẳng chút nguôi !

Di làm một bản dâng giời, 

Ngửa … xin giả chồng tôi mau về

(Chép theo quyển Quốc-Âm thi-vân tập, sách viết bằng chữ nôm của Trường Bác-cổ, số AB 109, tờ 11a- 12a).

XCIII Hương sơn phong cảnh ca (2) 

Thú tự-nhiên đâu bằng Hương-tích, 

Đủ thanh-tao cảnh lịch trăm chiều: 

Người thì vui trí, thỏ, sô nghiêu; 

Kẻ thì thích yên-hà phong-nguyệt. 

Kho tô-vận những chi ấy còn chưa biết, 

Thú hữu-tình sơn thủy thực là đây. 

Khi đăng lâm đã ngược mấy lần giời, 

Mây dưới gót đủ xanh, đen, vàng, đỏ, 

Lúc nhập động ngoạn kỳ-ba thạch-đắng, 

Dấu thân-ngoan ai vẽ cho cùng; 

Riêng một bầu không sắc sắc không, 

Đủ mọi vẻ quái kỳ kỳ quái. 

Thơ rằng: “Động-chi hữu linh thần-bút-tại: 

Hóa-nhi vô-ý tự nhiên công” (3). 

Khách xuất quan ngảnh cổ lại mà trông 

Lòng mến cảnh dời chân đi hóa đừng. 

Chén vận dịch nghiêng bầu uống gắng, 

Bức tiên-la mở túi nêm đầy. 

Giải-oan ra, thoát tục lâng ngây, 

Thiên-trù tới, vong cơ cang thấy khỏe ! 

Lang thi tửu còn đâu hơn đấy nhỉ ? 

Chẳng bồng-lai, nhược-thủy cũng thần-tiên 

Rõ ràng đệ nhất Nam-thiên ! 

Mang đi lại nể quán tiên mất lòng: 

Thôi thì hãy để chơi chung !

(Chép theo quyển Quốc-văn tùng-ký, sách viết bằng chữ nôm của Trường Bác-cổ, số AB 383, quyển hạ, tờ 92b-93a).

(Còn nữa)  

Ứng hòe-NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941) 

1) Cô sách đề bài Tô-thị hồi-văn là Tô Huệ chức cẩm hồi-văn, Bản dịch của ông Ngô thế-Vinh đã in ra quốc ngữ trong quyển thứ ba bộ Văn đàn bảo giám (in lần thứ ba, trang 58-59). Bản dịch mà chúng tôi sao lại ở trên thì chưa ai in ra quốc ngữ; sách Bác-cổ không chép tên dịch giả 

2) Bài Hương-sơn phong cảnh ca đề là của vui Lê-Thánh Tôn (1460-1497). Quyển Văn đàn bảo giám (I, in lần thứ ba, Trang 126) đã in ra quốc ngữ, nhưng có đến hai mươi chữ khác với bán nôm của Trường Bác cổ, cho nên chúng tôi tưởng nên sao lại để giúp vào việc bổ chính sau này. 

3) Hai câu thơ chữ ở bài Hương-sơn phong-cảnh này là: Động chủ có thiêng thì thần bút còn lại, tuy giời không để ý mà được khéo tự nhiên.