LXXVII Bài phú tổ tôm 

(độc vận của lương-y Trần Văn Nghĩa)

Bảy mảng trên tay, ba hàng trước mặt ; khi thừa nhàn ở cuộc tụ tam, trường đồng lạc vào tuồng đệ nhất ; hội gặp thiên khai thái vận, gần xa đâu chẳng mừng ran, cuộc chơi thượng đẳng trí cao, to nhỏ đều cùng vui thật.

Thuở ấy, rảnh việc thông mang, có chiều an-dật ; chuyện bất-can nghe cũng nhảm tai, buổi vô-sự ngủ đà chán mắt ; khách đài-các một mùi một lịch : chè sen rượu cúc, tiệc hứng vui-vầy ; nhà phong-lưu mỗi vẻ mỗi hay : nệm gấm chiếu hoa, ghế ngồi tươm-tất.

Vậy mới thử biết thấp cao, xét xem khoan nhặt ; tiền mặt đem xuất thổ chất đầy, bài da nện trang-kim tốt ngất ; hình-thế trăm hai mươi lẻ, ăn xuyên ghé bí, một quân hơn kém phải suy lường, tinh-thần năm bảy hội liền, chực-rộng ù-thông, mấy nước dọc ngang cùng chiu-chắt ; trong khi chơi cũng có kinh quyền, cao thế đánh mới hay trí thuật.

Đen thời đặt bỏ ngồi khêu, cầm bài ngủ gật ; trôi chửa xong đầu cánh lại tuôn thêm, ăn mà tốt tay trên liền phỗng mất ; gà vịt chịu không dám đánh, đảo trăm cấp thấy đôi ông lão, ôi liền ba ván cắn theo đuôi, tôm bò chực những không ù, mở ba vòng đều một con yêu, chắc đã thập thành còn thiếu cật ; người sốt gan thấy cũng buồn cười, kẻ xấu nết nghĩ càng đổ ghét.

Đỏ thời phỗng ngỡ mưa tuôn, ù như chớp giật ; gặp ăn tốt lại vui vào, vừa chực sẵn liền mở bật ; bàn chi nấy rồi liền toàn-bạch, vươn cánh tay bắt giair lợn béo, rằng cao khoe một tấc đến giời ; thông tam-khôi vừa đủ thập hồng, vểnh râu lên thách lấy gà mòn, được thể nói mấy nhời dậy đất ; vang lừng kẻ đỏ nói chua ngoa, lẳng-lặng người đen ngồi đắng ngắt.

Kìa xem bao kẻ chơi thắng, quen nghề kiếm vặt ; gọi tên là bạc toan những càn khôn, bưng mắt lấy tiền, biết đâu giáp ất ; nhạt nước ốc trò chơi vô vị : tam-cúc, đố-mười, đấu-lình, bảy-kiệu, thấy đâu là vẻ thanh-tao ; ngang càng cua lối ở bất-bình : sa-quay, chẵn-lẻ, rồi-mỏ, ba-que, hết thảy những tuồng thô-suất ; đem mấy nghề lươn lẹo so xem, sao bằng thú tôm già ăn đứt.

Tuy vậy, vui chớ loang-toàng, chơi đừng ngoa-ngoắt ; chán thời thôi há đến say mê, thua phải giả nào từng réo rắt ; thấp mà đỏ  được chừng bát vạn, e tình xử-nghĩa chẳng bền dai ; cao mà đen thì ra dạng cửu-văn, nửa cuộc giao tài thêm bứt-rứt ; chi cho bằng phải khoảng vui chơi, chớ có để đến điều rầy-rật.

Làng ta nay tính sẵn tri-năng, học gồm văn chất : nghiệp nho-gia sách vở thuộc lầu, nghề tài-tử văn-chương trong vắt ; độ phóng sáu đồng dưỡng-thọ, thủ-đàm nguyên những kẻ thật-thà, chừng chơi vài trống đào-tình, diện hậu sẵn mấy thằng nhỏ-nhoắt ; gọi là mượn thú để mua vui, há lấy tụ-tam làm ý tất (1)

(Theo quyển Quốc-văn tùng-ký của Hải-châu-tử biên-tập, sách viết bằng chữ nôm của trường Bác-cổ, số AB 383, quyển hạ, tờ 33-34)

LXXVIII Các quan ở phủ-liêu mừng Vương phủ (Trịnh Doanh, 1740-1767) tôn chính cung làm chính phi

Tần-tảo bấy nay hợp đạo thường,

Tiếng khen còn ngợi giá Nhâm Khương.

Tài gồm có đức nên nhuần tốt.

Gấm cải thêm hoa mới rỡ-ràng,

Cù-mộc thơ còn in thẻ ngọc,

Kê-minh thiên hãy dấu phiên vàng.

Khôn tam đành cậy trong muôn việc,

Kiền ngũ ngồi xem máy sửa-sang,

Việc ngoài cậy đã sửa-sang,

Giúp tring thêm cậy đởm-đang gia-tề.

Sắt cầm vui nối tiếng hài hoà,

Khi ca Lân-chỉ khi đề Chung-tư.

Mồng mười tháng năm, năm Cảnh-hưng mười sáu (1755)

(Trích ở quyển Quốc-âm thi-ca tạp-lục, sách viết bằng chữ nôm của Trường Bác-cổ số A B 296)

LXXIX Vân canh Thiêm sai

Gác xe đường bắc đi tìm,

Hạ-lôi lúc ấy một nhầm hận không ?

Cái quan định tỏ non sông,

Vua tôi khó nhọc mảnh lồng như in.

Trích ở quyển Phong-cảnh biệt chi, sách viết bằng chữ Nôm của Trường Bác-cổ, số A B 377, tờ 12a)

LXXX Phủ học thạch bi

Hiền-thư phật-lục xưa nay.

Đá bia một dựng vẽ đầy quỳnh-lâm.

Văn-đàn hương lửa trăm năm,

Tưởng quan thái-thú lòng chăm nhường nào !

(Trích ở quyển Phong-cảnh biệt chí, tờ 12b)(2)

 

LXXXI Chùa núi Yên tử

(của Trịnh Căn, 1682-1709)

BÀI DẪN (bằng chữ nho, dịch ra quốc-văn) – Ta thường xem-xét bờ-cõi, bày tả cảnh-sắc, thấy chùa Hoa-yên núi Yên-tử phong cảnh lạ nhất, đem lòng yêu, vì muôn hình mông-mênh mũi đất, xát chín tầng mây chót-vót cột giời, hiện ra như rồng như phượng, mọi vầng xanh tốt, khinh tuyết lấn xương, nghìn hàng xanh biếc, trông như gấm vóc ở trong núi, giắt màu xanh như ngọc nhả, muôn dòng chầu về tôn-tổ. Mở cửa thấy dãy núi san-sát như ngọc quỳnh, như khâm-bình ngoài núi, hoá với ánh đỏ là thức ăn của tiên-tử và mây trắng là chí-khí kẻ cao-nhân, rất nhiều thú-vị, không thể nào vẽ cho hết được, tình-cờ thuật bốn vần thơ thất-ngôn, giở lại dùng quốc-âm, để cho quang-cảnh thiên-nhiên nhân thế mà thêm rực-rỡ.

Cung quế hương đưa thoảng thoảng mùi,

Lâng-lâng chẳng bợn chút trần-ai.

Thanh-lương một khóm vang vang rộng,

Ưu-bát nghìn-xuân rỡ-rỡ tươi,

Gió đức hiu-hiu nhuần mọi đỉnh,

Doanh nhân cồn-cộn khắp đôi nơi

Thấy thiền-tăng những vân-van hối,

Cảnh với thu chầy hẫy-hẫy vui.

(Trích ở quyển Ngự-đề Thiên-hoà-danh bách-vịnh, của Trịnh-căn sách viết bằng chữ nôm của Trường Bác-Cổ, số AB 544, tờ 13b-14b)

(Còn nữa)

Ứng hòe-NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

1) Bản của cụ Nguyễn Đông-Châu in ra quốc-ngữ trong quyển Cổ-xuý nguyên âm (trang 72-73) khác với bản chữ nôm của Trường Bác-Cổ ở những câu sau này : “Chừng đồng lạc, vào phòng đệ nhứt” (Sách của Bác-Cổ chép là : Trường đồng lạc vào tuồng đệ nhất ; “giản việc thông-mang” (Bác-cổ là : Rảnh việc thông-mang); “một mùi một trải” (Bác-cổ là : một mùi một lịch) ; “chè sen rượu thuốc” Bác-cổ là : Chè sen rượu cúc ; “Dựa gấm, chiếu hoa” (Bác-cổ: là Nệm gấm chiếu hoa,v.v

2)Những bài thơ đang trong số này chưa in ra quốc-ngữ bao giờ. Nguyên-văn chữ Hán bài Phong cảnh biệt chí sao ra như sau này :

Vân-canh Thiêm-sai

Xa giá khi khu bắc đạo tầm,

Hạ-lôi nhất-ngộ hận di thâm.

Cái quan định luận giang sơn bạch,

Thần chúa gian nan nhất phiến tâm

Phủ-học thạch-bi

Phật-lục hiền-thư tự cổ-câm,

Phong bi nhất nhất học quỳnh-lâm

Văn-đàn hương-hoả đồng hân yết

Tưởng kiến đương niên thái-thú lâm.