LXXII  Răn cờ bạc (độc vận) 

Gớm thay cờ bạc ! Gớm thay cờ bạc ! Chẳng ớt mà cay, chẳng sung mà chát !  Bỏ bả nhau bằng quân bài, đánh cạm nhau bằng đĩa bát; có không không có, như chuyện chiêm-bao, khôn dại dại khôn, lừa nhau mũi mác; no cơm nhân lúc rồi nghề, quẩng mỡ bày trò cờ bạc.

Một trăm hai mươi quản trằn-trặn, ba hàng ngang dọc đảo điên; bốn đồng mười sáu chữ rành-rành, hai mặt âm dương xô-xát; trước chơi sau thật, mon-men dần nên chuyện ăn; vào nhỏ ra to, cay cú mãi ra lòng bạc ác.

Được những lúc hòn son giắt khổ, ù thông thập-hồng bạch-định, chờ đọc lên chi nẩy đùng-đùng; đương những khi đầu rắn giắt lưng, nhớ rành cặp-lệch ba-bay, theo lối đúng khuôn rèn chan-chát; trước mặt vợ đống tiền xù-xụ, lửng diều mặc sức ba-hoa; trong lưng găm túi bạc lè-lè, béo mờ tha hồ phân-phát; của ngon vật lạ đem đến như mưa, bạc vụn tiền rời tung hê ngỡ rác; những chú cao-lâu lê-la về đến, xúm quanh buôn công-đạo bi-bô; các cô hàng sáo bấm béo rủ về, tán mảnh gạ nhân-tình kia khác.

Chắc hẳn dỡ nhà người về thổi, tưởng lăm-lăm những bụng ăn người, biết đâu hết đụn hóa ăn xin, chơi mãi mãi có thể bỏ xác; đến lúc họa-lai thần ám, bài xoay quanh bỏ trực bỏ ù phải khi vận bị quỉ trên, bạc đánh đuổi càng thua càng khát, xóa ván này bày ván khác, đen vẫn hoàn đen; đổi phần nọ bỏ phần kia, nát cũng vẫn nát; chửa đánh xuống đã ghê những mất, ngực thì-thùng như trống đổ hồi; mong gỡ ra lại buộc thêm vào, mặt hăm-hổ như đồ phải tát, quá tay nên nỗi nợ-nần, nóng mặt tìm đường gỡ-gạc; vay cào vay cấu, lãi mấy cũng ừ, đắt non đắt già, của ai cũng choạc; búi tóc chặt, gật chày gật cối, tát cũng đành, dù đem giam trói cũng đành; trợ mặt dày, đeo mẹt đeo mo, rủa càng mát, dẫn bắt lột trần càng mát; hàng sáo gặp phải tay nanh nọc, giơ đầu bò vỗ tuột cũng không xong; nặc-nô giây phải lũ côn-quang, sắn móng lợn chạy bừa mà chẳng thoát.

Khi mới phải bán cửa bán nhà, khi mới phải gán đồ gán đạc; khi mới phải chui về xó nhà, khi mới phải chúi vào đống rác; lo đến nợ bồn-chồn không ngủ, đặt lưng nằm thì lại giật mình; nghĩ đến tiền ngao-ngán quên ăn, nuốt vào cổ hình như mắc chạc; vợ con cũng mất lòng thương, bè bạn cũng ra tình nhạt; mất danh mat diện, quá chơi mà nên kẻ lăng-nhăng; hại nhân hại đời, trót đại hóa ra người rầy rạc ! Thế mới biết ngồi vào đám bạc, già cũng chẳng thương gì trẻ, thằng cũng chẳng nể gì ông; thế mới hay làm đến đồng tiền, con cũng chẳng thương gì cha, cháu cũng chẳng tha gì bác: cao hạ bằng-đẳng, láo-nháo lào-nhào; cốt-nhục tượng-tàn, xác-xơ xơ-xác. 

Đọc đến chữ “Tham tài nhi tử”, kẻ máu-mê đã trót dại thì chừa; nhớ đến cân “Lâm cục giả mê”, người tai mắt phải giữ-gìn cho rát.

(Theo quyển Quốc-văn tùng-ký, sách viết bằng chữ nôm của Trường Bác-cổ, số A B 383, quyển hạ, tờ 34 -36 a) (1).

LXXIII Chung tình 

Người Hương-quan, khách Phượng-thành, 

Nỗi-niềm thắc-mắc lặng bao đành ? 

Trạm mai gấm trải thơ hoài viễn, 

Dặm liễu châu rơi bức ngụ tình. 

Thẻ rỡ khúc rồng giời chín hạ, 

Giấc qua hồn bướm nguyệt năm canh. 

Lầu cao sớm nực mùi lan huệ,

Kẻo nhắn-nhe càng hỡi yến oanh ! 

(Trích ở quyển Quốc-âm thi-ca tạp lục, sách viết bằng chữ nôm của Trường Bác-cổ số A B 296) (2)

LXXIV Chùa Phật tích 

(Thơ của Trịnh-Căn, 1682-1709)

Bài dẫn bằng Hán-văn, dịch ra quốc-văn. 

Ta nối theo vương-nghiệp, giữ yên nhà vua, kính-cẩn chuyên-cần, thời thường cố-gắng, sửa-sang văn-đức để trường-lí kỉ-cương, phấn-khởi vũ-công đề mở-mang bờ-cõi. Bốn bể đều nhuần thanh-giáo, muôn dân đều gội nhân an: điều tốt huy-hoàng, sao lành rực rỡ. Vừa nay gặp hội phi-bình, kính nội phép xưa đi tuần-thú, trải nơi danh-thắng như tranh vẽ, hết thảy phẩm-đề vào ngọn bút.

Mến thay chùa Thiên-phúc, núi Phật tích trông như ngọc thiều ngọc vũ, chon von đa ruộng, xuân-nghiên một cảnh, xanh tốt quanh năm. Động Tiên y như chốn thanh hư (thanh tịnh hư không), bên vách không mây khói; ao rồng (long-trì) soi suốt bến siêu-độ; trên cầu đôi vừng nhật nguyệt; núi mọc chập-chùng như bình phong dựng; nước sông trôi thẳng như tấm lụa phô.

Xem tảng đá ki-dị, đủ biết phép thần-diệu lưu-truyền mãi mãi, sắc đẹp giát vàng, rờ-rỡ sáng-sủa. Tiếng Phật-pháp đã vời được huyền-khách tiên hoa, đạo Đại-Thừa đã đạt được khách quê dâng quả. 

Đó chính là vườn xanh núi Thứu, giời đến cõi nhân-gian. Sau khi ngoạn thưởng, cảnh hợp với người, giời đất thư-hòa, thơ nghĩ mênh-mông ngâm thành một luật quốc-âm, sai khắc lên sườn núi, dùng chép sự thực. 

Kiền khôn vẹn thiểu một bầu đông,

Nẩy nẩy siêu nhiên chỉn lạ-lùng. 

Hương cũ giăng Thiền soi vặc-vặc, 

Vân song tiếng ngọc nặng boong-boong. 

Trì thanh liễu-liễu ngư-long hội, 

Non nhiều trùng-trùng cẩm tú phong. 

Luận thế giới này giai cảnh ấy, 

Có bề quảng-đại, có linh-thông.

(Trích ở quyển Ngự-đề thiên-hòa-doanh bách vịnh thi tập, của Trịnh-Căn, sách viết bằng chữ nôm của Trường Bác-cổ, số A B 514, to 12a-13b).

LXXV Giang tân thiết vông 

Hai bên non núi tranh hùng, 

Chẳng ngang lưới sắt giữa sông rõ-ràng. 

Có thuyền đánh cá dọc ngang, 

Sóng yên bến Phật thuộc làng Thụy-hương. 

(Trích ở quyển Phong cảnh biệt chí, sách viết bằng chữ nôm của Trường Bác-cổ, số AB377, tờ 115)

LXXVI Thụy hương hiệu uý 

Quảng-giang tốt sáng lạ thường ! 

Cửa Tần nào được công càng rệt lâu. 

Trượng-phu lỗi-lạc về sau, 

Thiêng thừa còn khả trần đầu cõi xa

(Trích ở quyển Phong cảnh biệt chí, tờ 1lb.) (3)

(Còn nữa) 

Ứng hòe NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941) 

1) Bài phú Răn cờ bạc chép trong sách nôm của Bác-cổ khác với bản quốc-ngữ của cụ Nguyễn Đông-chấu (Cổ-xúy nguyên-âm, trang 83: Giới đồ bác phú) ở những chữ này: “chẳng ớt mà cay, chẳng sung mà chát” (cụ Đông-châu in là: (chả ớt mà cay, như chuối mà chát); “Các cô hàng sáo bấm béo rủ về”, cụ Đông-chân in là (Các cô hàng-sáo vi-véo rủ về); v.v… – Khác cả với bài truyền -khẩu, như câu “gật chày gật cối”, có người hát là “gật liều gật lĩnh”, v.v. 

2) Những bài thơ và bài ca đăng kỳ này chưa in ra quốc-ngữ bao giờ. Câu phá-đề ở bài Chung tình, tuy là lối thất-ngôn Đường-luật, nhưng chỉ có sáu chữ, Vậy xin cải-chỉnh lại chú-dẫn đăng trong Tri-tân số 34, trang 32, giòng 20-21. 

3) Nguyên-văn chữ Hán như sau này:

Giang-tân thiết-vông 

Hà niên Sơn Thủy lưỡng tranh hùng, 

Thiết-võng hoành giang sự dĩ không ? 

Thặng hữu ngư chu lai vãng xứ, 

Phật tân lãng thiếp thử giang trung.

Thụy-hương hiệu uy 

Quảng giang anh tú đĩnh phi thường, 

Nhất nhập Tàn-quan vĩ tích chương 

Lỗi-lạc trượng-phu qui khứ hậu, 

Du linh đo khả trấn nhà hoang.

Cân “Hà niên Sơn Thủy lưỡng tranh hùng” dịch là Hai bên non núi tranh hùng thì có lẽ nhầm, vì đây nói về Sơn-tinh với Thủy-tinh, chứ không phải là sơn-thủy (núi và nước); xem câu dưới nói đến lưới sắt cũng đủ biết là chuyện thần núi với thần nước.