LXVIII Chung tình 

Trong bóng đèn hoa luống thở dài 

Lòng xuân chạnh những chốn dương-đài 

Nhớ sao thảm-thiết chiều tha-thướt. 

Đồng vọng bên tai tiếng nói cười. 

Gác thẩm xa nghe kình rước gió, 

Lầu cao buồn thấy nhạn bên giời. 

Gửi xin xét thấu lòng muôn dặm, 

Kẻo luống rằng thương, kẻo thẹn nhời.

Thánh thót bên mai mấy giọt dầm, 

Ruột loạn khôn gỡ mối sầu tâm. 

Tấn Tần muôn kiếp màu son nhạt, 

Ngưu Nữ khôn phương nước tưởng đầm. 

Tưởng khách tựa thu sầu tựa bè, 

Nhớ ngày như tháng, khắc như năm 

Vì đâu cho nguyệt vô tình bấy ?

Nhạn vắng tin truyền cả vắng tăm.

Người ở đội quê phân đã vầy, 

Kẻ về cảnh cũ ngại-ngùng thay (1) 

Nhớ lòng ấy tưởng càng thêm tuởng,

Nhủ dạ làm khuây lại chẳng khuây. 

Nhất nhật tam thu rầu rĩ lắm, 

Cam tâm thiên-lí não-nùng thay ! 

Bình-yên đôi chữ đưa về đến, 

Xin xét tình cho nghĩa một ngày.

(Trích ở quyền Quốc-Âm thi ca tạp-lục, sách viết bằng chữ  nôm của Trường Bác-cổ số AA6 296 ) (2)

LXIX Thi hỏng tự cười mình

(độc vận) (Bài phú của cụ Nguyễn Khuyến, tam-nguyên Yên-đổ) (3)  

Khoa-mục đường xưa, văn-chương lối mới; giời năm mây thiên-tử rõ-ràng, bóng bốn bể trạng nguyên phấp-phới: lều chiếu là thang võng lọng, tranh leo giật giải có ai nhường ? Tràng tiền là cửa cân-đai, cao gối mau chân không kẻ đợi.

Công-danh gặp hội, đường thanh-vân sẵn bước toan trèo,  phú-quí nức lòng, cành đan-quế vin rồng tựa phượng, mượn phấn vua mà giả nợ bút-nghiên xưa, đêm ngày mong mài sắt nên kim, nhờ đạo thánh để đền công đèn sách lại; cửa hiền rộng mở, một nền Cúc-viện, có quả có hoa, trận bút tranh đua, ba đợt Vũ-môn lẫn trê lẫn chuối.

Có một người mặt-mũi khôi-ngô, râu-mày nhẵn-nhụi; biếng  học siêng ngủ, sách vở mập-mờ non tập già chơi, văn-chương xốc-nổi; đến khoa thi nửa sợ sửa rừng, tính nhân-sự một may một rủi; mừng mặt đỏ buồng cau bánh thuốc, đồ vào trường kẻ rất mực phong-lưu, theo chân nhiều đầy-tớ học-trò, chốn tạm trú hãy tìm nơi rộng rãi. 

Chứng hay ngủ xưa nay rắp sẵn, lều một vác chiếu một ôm, đồ phụng thân mang xách nặng-nề, nước đầy bầu, giầu đầy túi; thuốc Bách tinh đóm diêm điếu ống, thông mồi này đặt mồi khác, văn được như thuốc, ắt bắn hơi dài; chả Ba-họ cơm nắm ruốc bông, ăn một miếng, nghĩ một câu: văn được thư cơm, lo gì “ý nỗi”.

Văn làm thì đặc như bí, dai như đỉa; chạy lều này sang lên nọ, vi nhất vi nhị; sách thi quên, tối như hũ, mờ như đêm; nghe câu được với câu chăng, viết chày viết cối; đệ nhất trường làm bài tinh-nghĩa, lần theo tấm về rõ-ràng, hai trăm chữ điểm đủ tân qui, tùng-tiệm hai tờ ngắn ngủi; phi cũng chẳng ra Tàu ra Mán, theo anh em “tắc-kiến, phù-kỳ”, sách gọi là có cổ có kim, đủ lề-lối  “sĩ-văn, cẩn-đối”. 

Đóng lều kin mit, nhất định ngồi dai; xe sáp thẳng gang, cố tình viết tối; những e-ắp chửa mang mình-ốc nổi, lại ra sự dắt tay trẻ xuống giếng, ngấp-nghé làm gà, toan kéo-cò giả nợ tổ-tôm thua, khóe dơ tuồng đơm đó cá ngọn tre, kiếm ăn như nhãi; lúc nộp quyển hòm văn đa khóa, van lại phòng tiếng nhỏ tiếng to, khi ra trương trống điểm quá canh, gọi đầy tớ ấm-a ấm-ới.

Buồng nhà trọ lúc thở dài vuốt bụng, những mừng thầm quyển ấy du dược là may, ghế cô hàng khi vắt-xẻo rung đùi, lại khoe mẽ văn kỳ này nghe cũng lợi; lúc hẹp dạ những bàn dày bàn mỏng, nhờ lượng quan trường rộng but cuối bảng chăng từ, khi cả gan lại nghĩ quẩn nghĩ quanh, họa trong quyển có câu thần, thủ-khoa cũng phải..

Đến khi ghế chéo dán long xanh, bành voi giương ống gọi: số cử nhân xướng đã đủ lần, dòng tiền hiệu đọc vừa đến cuối; thầy đồ nọ nét mặt tế tổ-ngoại, áo quàng vai đi tất-tả tất-tơi, bạc tú kia đầu gối tranh trưởng-nam, non cắp nách chạy hất hơ hất-hải.

Nào những lúc ra trường đoạn xênh-xang hàng phố, giày kéo lê, quần chấm gót, dịu dàng thay tốt bộ cử-nhân! Nào những khi xướng danh rồi: lui gót cửa trường, khăn bỏ giọt, áo vắt lưng, lơ-láo tuởng như hình chú lái; nghĩ đến một tháng tròn phí-tổn, làm lại chưng con mễ con kim, như chữ ba đời trước cung khai, thêm tủi với ông bà ông vải. 

Nhơ-nhác lúc quặp râu về trọ, đầy-tớ lờ-đờ, mụ hàng ánh-ỏi, lắng tai nghe gà gáy để tìm lui, buồn tên khi vác mặt về nhà, trẻ con nhạt-nhẽo, mẹ nó thờ-ơ, vẫy đuôi thấy chó mừng càng thêm tủi; trước cũng nghĩ đi cho khỏi cáo, tiền tài mua lấy cái trò chơi, ai ngờ ra về lại hoàn mèo, mẹo lần liệu đường mà nói giải.

May phút chốc thói kiêu chửa được hẳn, như dưa mới rứt như giàu mới héo, ngại ngùng nhưng thẹn với đan rầu, đáng kiếp thay! mùi hợm bớt từ đây, lấy nong mà đè, lấy rổ mà che, ngơ-ngáo chẳng còn ra mặt-mũi. 

Thôi thì thôi, canh bạc bằng chân, chuyến buôn không lãi; cũng thông cuộc thể biết hay sao ! Phong sắc lòng giời đừng vội hỏi; hỏng khoa này chờ khoa khác, thép hùng văn đúc lại mới nên già, qua một sự sinh một điều, đường thế-cố phải lâu rồi mới giỏi. 

Số phận chớ bàn sớm muộn, có học có thi có hỏng, có dọc ngang cho phỉ chí mới cam, quan âu, nào bạn trước sau, còn giời còn nước còn non, còn vinh hiển với thế-gian được mãi; dẫu kẻ gọi ngựa bảo trậu cũng mặc, cái hay cái dở không cùng: dầy ta lấy mai với hạnh mà suy, nở trước nở sau có hội.

Kẻ nho nhã suy cho cùng lý, giời đã hậu người tại mắt ý chữ “sinh tài hữu dụng” hẳn không lo, mà trượng-phu thì phải tự cường, giời không phụ kẻ sách đèn, nào câu “hữu chí cánh thành” xin chớ vội; nay nhân ngồi đó cũng buồn, ruột càng thêm rối; trách phận đã no trách sô, nôm na mượn bút làm vui, cười mình đâu dám cười ai, chắp-chảnh vài nhời tự hối.

(Theo quyền Quốc-văn tùng-ký, của Hải-chân-tử biên- tập, sách viết bằng chữ nôm của Trường Bắc-cổ, số AB 383, quyển hạ, tờ 15b-18a).

LXX  Ô diên cố thành 

Núi sông Lý, Triệu tan-tanh, 

Diều bay mấy chốn một mình thương ôi ! 

Chiến hòa cuộc phó nước trôi 

Cỏ cây canh biếc lôi thôi đầy thành 

(Trích ở quyển Phong-cảnh biệt-chí,, vách viết bằng chữ nôm của Trường Bác-cổ số AB 377, tờ 100).

LXXI Thiên phù biệt phái

Nước trôi không hại trăm ghềnh, 

Thiên-phù bờ cát rành-rành như không. 

Nghìn thu lập miếu vợ chồng, 

Trung hồn vì nước biết công nhường nào ! 

(Trích ở Phong-cảnh biệt-chí, tờ 11a )(4)

(Còn nữa) 

Ứng hòe  NGUYỄN VĂN TỐ biên tập

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

1)Bản nôm của Tường Bác-cổ chép là “kẻ về cảnh quốc ngại-ngùng hay”; bản riêng của chúng tỏi chép là: “Kẻ về cảnh cũ ngại-ngùng thay” chưa chắc đúng nhưng còn nghe được, chỉ trùng chữ “thay” với câu thứ sáu.  

2) Những bài trích ở quyển Quốc âm thi-ca tạp lục chưa ai in ra quốc-ngữ; toàn là những bài làm Vào hồi Lê-mạt. Dưới bài “Chung tình” thứ ba có đề chữ “Đệ nhị nương thư-ký (vợ thứ hai gửi thư), trên đó có “Dậu-niên trọng-xuân vọng-nhật” (ngày rằm tháng hai năm dậu).

3) Ong G. Cardier đã chép hai đoạn phủ ( thi hỏng” trong quyển Lilléralure annamile (Hà-nội, Viễn đông ấn-quán, 1914, trang 147-148) và quyển Morceaux choisíd’auteura annamiles (Hà nội, Lê-văn-Tân, 1932, trang 161-262), đề là Chế người thi hỏng. Cụ Đông-châu chép cả bài trong quyển Cổ-súy nguyên-âm (Hà-nội, Đông-kinh ấn-quán, 1918, trang 68-71), đề là Lạc đệ tự chào phú. Hai ông đều không biết tên tác-giả; cụ Đông-châu lại chép những câu sau này khác hẳn với bản nôm của Bác-cổ:  “Chứng hay ngủ xưa nay rắp sẵn” cụ chép là “Chứng hay ngủ, sửa sang sắp sẵn”;  “Khi ra trường trống điểm quá canh” cụ chép là “Khi ra trường trời đã quá canh”, v.v.;. Còn những chữ lặt vặt thì nhiều lắm; Thí dụ “Tranh leo giật giải có ai nhường’ cụ chép là “có nhường ai” thì không đối với vế dưới là “cao gối mau chân không kể đợi”, v. v.

4) Nguyên-văn chữ Hán như sau này; hiện chưa ai bản nôm ra quốc-ngữ,

Ô diên cố thành 

Lý Triệu sơn hà dì biến canh, 

Phi diên kỷ xứ độc ai minh

Chiến hóa để cục tùy lưu thủy, 

Xương bích không dư thảo mãn thành

Thiên phù biệt phái 

Thủy giao vô phương bách trĩ đầu 

Thiền phù sa ngạn tích do lưu, 

Nhật gia phu phụ thiên thu miếu 

Hoa quốc trung hồn thắng kỷ tu