LX Chung tình trách văn (1) 

Kim phong thổi lọt rèm lương, 

Sẽ ngờ bằng-bẵng gió hương đưa mùi, 

Máy thiên-cơ khéo thoảng rồi, 

Nhiễm màu đắp-đổi thương vui sự thường. 

Trách ta sao chẳng hay lường, 

Nghĩ mình những tưởng rằng chang thực thì (2) 

Ai ngờ lòng thế giang hoa ? 

Thôi thôi đã phải làm sa chước người.

Vì hay ra sự biến dời, 

Dẫu trăm thề nặng mở nhời chẳng tin. 

Vì chưng trước đã khấn nguyền, 

Cho nên mới dám cần-quyền bấy lâu. 

Nào đi đâu biết da đâu, 

Ngay lòng đã trót nghe nhau sẽ chừng. 

Nghĩ rằng người khác đưng hằng, 

Chẳng ngờ còn thói gió giăng lông dài. 

Cứ là dạ chẳng như nhời, 

Lòng cong vả lại thế cười dở dang ! 

Chửa tường rằng ngã hơn vàng, 

Ai còn nay chước nói quảng ay du?

Giời cao muôn trượng thẳn xa, 

Quảng hàn nỡ để hằng-nga lạnh lùng!

Tưởng nguồn cơn rất trạnh lòng, 

Trách duyên dám trách cửu trùng thắm phai. 

Hổ tôi kém sắc phạp tài ! 

Làm thương muốn đội lượng giời chở che (3) ! 

Xét mình bồ liễu li-ti.

Dám rằng cù-mộc, dám khoe hảo cầu. 

Phận thường bé nhỏ nữ lưu, 

Muôn trông xét biết ái-ưu ghi lòng. 

Sách vàng rờ rỡ ban phong, 

Những lo xứng chỉ, làm trung báo đền. 

Tuy rằng kỳ ngộ thiên-duyên, 

Gót đầu toàn đội ơn, trên tài bồi. 

Non nhân bể đức bằng giới, 

Muôn phần báo đáp chớ vời một ly

Lam xem trên cả nhân-nghi 

Vậy nên ai nấy bắc chì mỉa mai.

Tay đâu bụng được miệng người, 

Nắng mưa cũng tiếng bẻ bai lọ là? 

Thấy gương nhạt nguyệt thắm hoa, 

Thừa cơ dễ khiến gièm pha nhiều điều.

Nghĩ rằng đức Thuấn, nhân Nghiêu, 

Hán Đường dù có đăm-xiêu lò-vò, 

Chắc rằng sông núi hẹn hò, 

Hay đâu bể ái chuyết đồ cùng ao. 

Đã cam há dám rằng sao, 

Canh chầy vò-võ lầu cao nguyệt tà.

Tưởng khi cầm sắt khúc hòa 

Trăm năm giao-tất một nhà trúc-mai. 

Bây giờ tin diễn vãng lai, 

Cửa ngăn dì gió, nguyệt kề then sương. 

Tưởng khi đầm ấm thiên hương, 

Ngỡ bền một nghĩa đề gương muôn đời. 

Bây giờ gần biến xa dời, 

Một lòng khôn tỏ nhiều nhời nỉ-năn. 

Tưởng khi lạm sánh nhà vàng, 

Nghe cân dễ rước được trường một xuân, 

Bây giờ hiểm nhỡ ải Tần,

Một bề trực phận chín lần khôn thâu. 

Càng phen càng dở mối sầu, 

Ngu trung dễ thấu nhiễm mầu thiên cơ ! 

Cớ chi nên nỗi sinh thơ, 

Bâng khuâng chỉ ước,ngẩn ngơ dạ nguyền. 

Ví còn đóa quế non Yên, 

Làm chi nên nổi nhiều phen thế này ? 

Nhịn hận nọ dạ khốn khuậy, 

Buồn xem vụ nữ nước mây thêm ngừng, 

Nhiều phen sấm chớp vung lừng, 

Bồ hòn đắng ngắt thì gừng lại cay. 

Nào khi ngự giá bình tây, 

Lao cần dám nghĩ gió lay sương hàn. 

Dầy trông ngồi bính ngồi kiền, 

Tấc gang cách nhỡ mấy ngàn non tây,

Bụng lăm vả tiếng một ngày, 

Nỡ cho kẻ bé kết bài dao-ca. 

Quản bao phận liên nhàn hoa, 

Nỡ trong thể thống quốc-gia nhường nào ! 

Dám tin tài quyết sáng cao, 

Quyền cường hết để nấy trao kẻ ngoài. 

Vững phù vận nước lâu dài, 

Dẫu sao thì cũng là người nhà vương. 

Huống đà lạm dự tao khang, 

Trì gia cũng lấy tam cương làm đầu. 

Ngập ngừng kể bõ xiết đâu, 

Bút hoa mẫu chữ lệ châu hai hàng. 

Cả lòng gửi trước nhà vàng, 

Cậy gương nhật nguyệt rõ-ràng chiếu lâm. 

Nghìn năm khắc cốt minh tâm, 

Kẻo mà (4) lỗi chữ tình thâm thế cười. 

Nền vương sáng rỡ giữa giời, 

May nhờ hồng phúc muôn đời

(Trích ở quyển Quốc-Âm thi-ca tạp-lục sách viết bằng chữ nôm của trường Bác-Cổ số AB 296).

XLI Chùa Khán Sơn 

Bài dẫn (bằng Hán-văn, dịch ra quốc văn). 

Chùa Khán-sơn ở phía tây Long-thành, cảnh chẳng lấy gì làm sầm-uất, nhưng có cái thú rất cao: gần chỗ ở thị-thành mà không nhiễm mùi trần tục. Giời đất chung-tú, núi gồ liền như hạt châu, các vì tinh tú chầu về sào Bắc-thần, gương soi bờ ao, khắp nước biếc bồng hồ. Cây hoa như ngọc, bốn mùa tươi tốt, nhân đức làm nền, muôn đời thái-bình. Danh lam thắng cảnh như thế, rất là tốt đẹp. 

Một khuôn nhuần được khí thanh

Cảnh tạ-nhiên này kheo uyển nhiên

Tịnh-xá lầu-lầu vừng nguyệt dãi, 

Phương-đình than-than bóng thông in, 

Khăng khăng nẻo nhiễm thiền quan tĩnh, 

Lồng-lộng đường thông pháp giáo truyền. 

Nhắn-nhủ bàng nhân du thưởng đấy: 

Gìn lòng kính cẩn chở trần duyên. 

(Thơ của Trịnh-Căn 1682-1709, trích trong Ngự đề Thiên-hòa doanh bách vịnh thi tập, sách viết của Bác-cổ, số AB 544, tờ 40 b)

XLII Tượng sơn kỳlãm

(thuộc Chương-đức huyện) 

Từ giời bầy đặt trùng-man, 

Quanh hàng bến phẳng muôn vàn núi non 

Xương đằm sương đá béo tròn, 

Tuyệt in cây có hãy còn vết quanh,

Đầu bờ tỉnh hoạch phân-minh, 

Bụng non mây lẩn xem hình sau mưa,

Võ dương nhìn dấu hàng bờ, 

Xuân-thân Hán-Phủ bấy giờ dùng quân (5) 

(Trích ở quyển Phong cảnh biệt-chí, sách viết bằng chữ nho và chữ nôm của Bác-cổ, số AB 377 từ 8b)

(Còn nữa) 

Ứng hòe NGUYỄN VĂN TỐ biên tập

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

1) Những bài đăng kỳ này chưa in ra quốc-ngữ bao giờ, Bản nôm của Bác-cổ chép sai hoặc chép thiếu nhiều lắm; chúng tôi phải bổ khuyết bằng những bản sao của mấy chỗ quen thuộc hoặc bằng những bản riêng của chúng tôi.

2) Có bản nôm viết là “Nghĩ mình những tưởng rằng chănng điều gì”.

3) “Hổ tôi kém sắc thua tài, lầm than muôn đội lượng giờ chở che”

4) “Kẹo dừng” “Kẻo đành” “Kẻo rằng”

5) Bài ca Tượng sơn kỳ lãm là bài văn dịch; nguyên van chữ hán như sau đây: 

Tòng thiên vận tượng, liệt trùng man

Hoàn liệt bình tân khởi vạn sán, 

Thạch cốt sương phì thiêm xuất sắc,

Mộc nha tuyết sẩn thượng lưu ban. 

Lũng đầu tỉnh hoạch tình trung hiện 

Nhâm phúc vân phì vũ hậu khan. 

Liệt nhạc nhận lại dương võ-tích, 

Xuân-Thân Hán-Phủ thí sự can.