Tiếp theo của phần VIII

XXVI: Thầy đồ dạy học (1) 

(Bài phú của Nguyễn-Khuyến, Tam-nguyên Yên-đổ) 

Bốn cóng kê giường, ba chồng cặp sách; cơm trắng canh ngon, giường cao chiếu sạch; chữ “thánh phù”, câu “thiên tích”: chậu thau rửa mặt tầm váo tầm vênh, điếu sứ long đờm cóc-ca cóc cách; thần Kiêu-kỵ xôi gà tùy thích, ông đã nên ông, bụt Nam-sang oản tẻ chẳng từ, khách thì mặc khách.  

Nguyên phù thay đồ dã, râu ria nhẵn-nhụi, mặt mũi ngông nghênh; văn pha Nguyên-mặc, sách học Quan-hành; số tử-vi Tuần Tiệt đứng đầu, qua vòng vận hạn, đặt văn-học thần đồng phụ nhĩ, mới bước công-danh.

Nhiếp nhi bụng linh tính quan, khôn nhà dại chợ; chơi đã hoang-loàng, tính hay sàm-sứa; một tháng lương non, căm gan thóc nợ. Vách ông Khổng còn hòm khoa-đẩu, mở một vài con, ngõ thày Nhan treo túi đan bầu, bảo năm ba đứa. Nón sơn úp ngực, đi liểu đi liều, bắt thủy cài tai, sướng chưa sướng chửa ! Nghĩ đến sểnh nhà ra thất nghiệp, cũng bật buồn cười: ô hay ngồi mát ăn bát đầy, có muốn không hử ?.

Rằng: “tội nhà chủ, xin đón thày ngồi”. Giầu tước đoạn, rượu chè rồi, bàn tiền đón, tính công nuôi. Chủ rằng: “Đạo Thánh là đạo rộng”, Sư rằng: “Tùy ông còn tùy tôi”. Mặt chữ điền vác hẳn lên trên, nết đau có nết; chiếu hàm-trượng tót ngay vào giữa, ngôi đã nên ngôi. Mĩ hĩ ông đồ ông lề, học trò học trẹt, chơi nghịch bằng ma, đòn đánh như két; bộ sử đầu, pho Dương tiết; hỏi mẹo lục kỳ, ra bài tam kiệt; chữ tứ thể đã nhận thừa bộn lỗi, nét rắn như đanh, sách thập khoa đà nhớ đủ mười bài, văn trơ những thép.

Mô tê răng rứa, dã dả chi hồ; hoặc cầm roi nhi quát tháo, hoặc điểm sách nhi ngắt câu. Sừ-tiên-ban sứ-tiên-cung, bắt khoan bắt nhặt, tiền diệc tặc, hậu diệc tặc, tiếng nhỏ tiếng to (2). Thày dốt kinh khôn, ngay quay ra góc, tiền tầy rượu cấn, hiền quá hóa ngu; nước chè Tàu thôn một vài hơi, mặt cán tàn chi hướng, thuốc lá tính hút năm ba khói, đầu tán lọng chi dù.

Nhĩ kỳ xem chữ xem văn, điểm bài điềm đốt, lên mặt thày sổ như băm bầu, bưng mắt chủ khuyên như lời tói. Hạ bút xuống nào tô tô điểm điểm, mực trát đen sì, dở bài ra những đọc đọc ngâm ngâm, son hòa đỏ chói. Đánh trống qua cửa nhà sấm, đem chuông đi đấm nước người; gắt như con khỉ, cười như đười ươi; rượu tít cung thang, trặc ba hoa chi miệng, văn gàn bát sách, rung chữ ngũ chi đùi. Xin rước thánh nhân về, đem kinh truyện rũ vài thiên sách cổ, ước chi nhà chủ bận, hoãn tháng ngày cho rộng lúc đi chơi. 

Dĩ nhi khăn chít đầu rìu, quần buông lá tọa; vuốt bụng nằm mèo, nhe răng nói quạ, cổ cò ngóng gái, phụng thỉnh Như-lai, tay vịt vẽ bùa, phó lô thiêu hóa. Cầm quyển sách ngủ gà ngủ vịt, đầu canh hai đã chực đi nằm, bước ra ngoài mắt trước mắt sau, cỗ bàn nhất toàn ngồi đánh cả. 

Cũng có lúc việc làng việc họ, về cửa về nhà, bàn đương-đởm, tính phù trà; sư nèo cố thêm răm tiền nữa, chủ kỳ-kèo đem mấy đồng ra; ruột tượng thắt lưng nguyên đồ rận đói, khăn tay giắt rốn rặt giống cau gia. Vợ con mừng thày cháu đã về, đầu nhà quẹt mách, cha mẹ ước con ta hầu tới, trước mặt nhện sa. Cực nối người mặt nước chân mây, miệng cánh chếnh choáng, kể chuyện chủ đầu cua tai ếch, chén rượu hè-hà.

(Trích ở Quốc-văn tùng-ký, sách viết bằng chữ nôm của trường Bác cổ, số AB 383, quyển hạ, tờ 14a-15a.)

Ứng hòe NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)