Tôi chưa thấy có quyển quốc-văn hợp-tuyển nào biên rõ những bài văn cổ trích ở đâu ra: ở sách in hay sách viết, sách chữ-nôm hay sách quốc-ngữ ?. Sự khuyết-điểm ấy không thể đổ lỗi cho nhà xuất-bản được, vì từ trước đến giờ những quyền văn-tuyển chỉ dùng làm sách giáo-khoa, chứ không phải là loại sách khảo cứu. 

Tuy vậy, cũng cần phải biết những bài văn cũ xuất-xứ ở bản nôm nào, và đem ra so-sánh kiềm điểm, thì may mới giữ được nguyên-văn. 

Tôi thấy trong sách nôm của trường Bác cổ có vài bài khác hẳn với những bài đã in trong những quyền thi-tuyển bằng quốc-ngữ, nên tôi sao ra đây để làm tài-liệu cho việc định chính sau này/

I: Thång mõ (1) 

Mõ này cả tiếng lại dài hơi, 

Cấp rổ (2) cùng bầu (3) chẳng phải chơi 

Mộc-đạc vang lửng trong bốn lối (4) 

Kim-thanh chuyển động (5) khắp đôi nơi. 

Trẻ già chốn chốn đều nghe hiệu (6),

Làng nước ai ai cũng (7) cứ nhời. 

Muôn một dưới trên (8) quyền cất đặt, 

Một mình một chiếu thảnh-thơi ngồi. 

(Theo quyền Xuân hương thi, phụ tạp sao sách của Bác-cổ, số A B 620, tờ thứ 3-a, bản viết) (9).

Bài thơ thằng mõ 

Gớm thay nhớn tiếng tại dài hơi,

Làng nước ưng bầu chẳng phải chơi. 

Mộc-đạc vang lừng trong bốn cõi, 

Kim-thanh rền rĩ khắp đôi nơi, (10)

Đâu đâu đấy đấy đều nghe lệnh, 

Xã xã dân dân phải cứ nhời. 

Trên dưới quyền hành tay cất đặt, 

Một mình một cỗ thỏa lòng xơi.

(Theo quyền Việt-tuy tham-khảo, của Đằng-châu cư-sĩ Nguyễn-Thiệp tập-biên, sách Bác-cổ số AB 386, từ thứ 2-b, bản viết)

II: Lấy chồng cho đáng tấm chồng (11) 

Vân “lấy chồng cho đáng tấm chồng, bõ công trang điểm má hồng răng đen ). Truyện rằng “chớ tham ruộng cả ao liền, tham vì cái bút cái nghiên anh đồ”: cố kỳ nghĩa dã. Bỉ dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm, tằng kiên ư thiên vạn nữ-nhị chi tiến, hựu là sở thủ ư anh đồ dư, bạn kim-loan hãi thi vị trần chi, dĩ quan các cô chi ý.

Em thưa rằng: công-trinh hầu dễ biết mấy xuân, gương lân để khách hàng-quần thư soi, Vạy khi sen ngó đào tơ, mong gặp hội nhân-duyên chi phải lứa; giai tài gái sắc, thực là duyên cầm sắt chi tốt đôi. Chọn mặt gửi vàng, dẫu mấy nghìn người thì cũng vậy.

Nam vàng sách hỏi mà lược bay đây. 

Dám rằng: rồng bay còn đợi đám mây, bắn bình tước phải đợi tay anh-hùng. Lấy chúng em má đỏ hồng-hồng, răng đen rưng-rức, chẳng những đam ư cô tu di nho chi dự, thực cũng chung tình ư chồng loan vợ phương chi duyên. Nếu mà củ đậu cành mai, thì công trang-điểm chẳng hoài lắm ư ?. Vậy nên sớm gửi tơ duyên, ai là chẳng ngọc đá, vàng thau chi kén chọn ?.

Nay xét chung truyện phương ngôn, chị em bạn gái có nói rằng:

“Chớ tham ruộng cả ao liền, tham về cái bút cái nghiên anh đồ”.

Tượng rằng: ngọc còn đợi giá, vàng chẳng lộn thau, mà cam sành với quả quít hôi, đã cân nhắc ư ba một đồng đôi chi giá. Hoa đào tiên cấm, chớ bán thuyền buôn, cây quế cỗi trầm, chẳng làm cọc giậu. Vả ruộng sâu ao cá, chú nông kia chi trọc-phú những khoe giàu; bỉ Vương-Khải, Thạch-Sùng đã từng đấu phù, thì cũng dương mắt ếch ư của đời người thế chi thu. Nghiên ruộng bút cầy, anh đồ nọ chỉ đa vàn, không ngại khó: bỉ Mãi-Thần, Mông-Chinh có nhẽ trường bần, thì cũng bổng cánh hồng ư bĩ cực thái lai chi hội.

Nông nhì sĩ nhất: nhẽ ấy đã đành. Nhưng chân lấm tay bùn, chú nông những vũ-phu chi cục-kịch, dĩ yếm thắm quần hồng chi tha-thướt, ư thử nhi mang bầu xách lọ, sao cho cam hạt ngọc đề ngâu vầy ?. Mắt thánh tai hiền, thay nho là quân-tử chi dịu dàng, di môi son má phấn chi nhởn-nhơ, ư thử nhi sửa túi nâng khăn, thì mới đang cành ngô cho phượng đỗ.

Tưởng anh đồ chỉ sự-nghiệp, đèn xanh một ngọn, án bút chuyên-cần, quyển vàng ba bộ, cửa huỳnh ong giả. Còn trong trần-lụy, anh đồ là vị vũ chi giao-long, mấy khoa thi danh chiếm bảng vàng, … ngày nọ chi hàn-nho, ngày nay đã ông cử ông nghè chi đài-các. Em nhờ duyên la thắm, thì ước với anh, sau võng thiếp, cũng thỏa đời ở võng lọng chi nghênh-ngang.

Chưng thuở hàn-vi, anh đồ là ẩn sơn chi hổ báo, gặp vận thái ơn vua phấn nước, tức ngày xưa chi hàn-sĩ, ngày nay đã quan  tham quan thượng chi phong-lưu. Em nay nhờ phản đẹp chỉ  hồng, thì chàng quan cả, thiếp hầu bà, cũng sướng kiếp ư ngựa xe chi đủng-đỉnh. 

Dẫu dài lưng tốn vải, bây giờ đã võng đào áo gấm chi bảnh-bao. Dẫu ăn nó lại nằm, bây giờ đã ghế ngựa giường cao chì chỉnh-chện, mà vi lỗ thủ tiền, nông cũng như đười ươi chi giữ ống, tức thừa tiền mỏn-hạ, phải bon-chen ư cửa hầu bằng bể chi thu, phú đa chiêu-oán, nông cũng như ró nhà chi con tôm, (12) tức gianh bạc lễ tâm, phải khúm-núm ư ngọn bút nghìn sàng chi tế. 

Đáo thử tắc chồng quan giàu, thiếp hầu đẹp, ai chẳng khen nhất thế chi thần tiên, danh-phận cả, bổng-lộc nhiều, đời mới thỏa tam sinh chi hương-hỏa. Thị khởi vô sở thủ ư anh đồ tai ?

Em nay vừa độ giăng tròn, gặp tuần hoa nở, mà yếm trắng giặt  hồ, vã đi vã lại, chỉ mong người nho-sĩ chi yêu-đương. Miệng ong lưỡi yến, uốn éo trăm chiều, cũng mặc giọng thế-gian chi mai-mỉa, Cẩn đối.

(Theo quyển Quốc-âm thi-văn tập, sách của Bác-cổ, số AB 109. trang 27a-29a, bản viết).

Ứng hòe NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

  1. Trong bản chữ nôm của Trường Bác-cổ đề là Vịnh đục-nhân.
  2. Chữ nôm viết là (泣 …) thường đọc là khắp đua, nhưng khắp đua thì không có nghĩa gì cho nên các nhà nho đọc là cắp rổ. 
  3. Những quyển quốc-văn trích điểm in bằng Quốc-ngữ thường viết câu này là: “Mẫn-cán ra tay chẳng phải chơi”, không rõ xuất-xứ ở đâu
  1. Có bản chữ-nôm viết là “bốn cõi”, như bản Việt-tuy tham khảo đao trên kia.
  2. Có bản chép là “rền-rĩ”. 
  3. Có bản chép là “nghe lệnh”. 
  4. Có quyển quốc-ngữ việt là “ai ai phải…”
  5. Có bản chữ nôm viết là: “Trên dưới quyền thanh tay cất đặt”.
  6. Người ta thường nói chính vua Lê Thánh Tôn (1460-1497) lam ra bài thằng nhỏ. Ở đây chúng tôi chưa bàn đến vội, vì mục đích của chúng tôi là gom-góp tài-liệu, để khi nào đủ, đem ra phân-tích cho rõ-ràng, rồi mới xét đến vấn đề tác-giả.
  7. Quyển Quốc-văn tùng-ký (sách của Bác-cổ, số AB 386, bản viết, trang 15b) chép là “Kim-thanh rầm-rĩ khắp đôi nơi”.
  8. Bài văn-sách này tương truyền là của Lê quí-Đôn. Ông Nordemann (thường gọi là Ngô-đô-Mân) làm quyển Quảng tập viêm văn, xuất-bản năm 1898, in ra quốc ngữ trước tiên, nhưng bỏ sót một vài câu

Những quyền văn…tuyển xuất-bản gần đây cũng không chép đủ. Bản nộm của trường, Bác-cổ, mà tôi chép ra đây, có đủ và  có đúng không? Xin để các nhà sách nôm xét đoán,

  1. Có bản viết “Nông cũng như gió rạt chí tôm”