Trong quyển Đại-nam quốc sử diễn-ca, ở phần chữ nho (bản Tự-đức năm 1870 24b) có một đoạn nói về vua Đinh Tiên-Hoàng (968-979) “bình được mười hai sứ-quân, lên ngôi hoàng đế, đóng đô ở Trường-yên (Ninh-bình), chế triều nghi, đặt trăm quan, phép tắc gần đủ, chính thống của nước ta bắt đầu từ đấy. Tiếc rằng trí-dũng có thừa, mà học vấn không đủ: bọn Ngô cảnh-Chân (Đại-việt sử ký toàn thư, bản kỷ quyển 1, tờ 3b, và Khâm-định Việt-sử thông-giám cương-mục, chính biên, quyển 1, tờ 4 b, đều chép là Ngô Chấn-Lưu). Đặng Huyền-Quang là dòng thày chùa mà cũng hàng giai phẩm. Năm hoàng hậu, đôi con đích đạo vợ chồng cha con còn thiếu. Đặt vạc, nuôi hổ. việc hình sao mà dữ vậy ? Ăn yến đêm đến nổi say nằm ra đấy, chí sao hoang thế ? Chốn trùng-môn không sửa, đồ mặc nạn Đỗ Thích !”.

Những thời phê phán ấy đều dựa vào thời sử-thần đời xưa, như Lê văn-Hưu (về đời Trần Thái – Tôn, 1225 – 1288). Ngô Sĩ Liên (về đời Lê Thái-Tôn, Lê Nhân-Tôn ? -1459), Nguyễn-Nghiêm (về đời Lê mạt, 1729-1786), v.v….

Lê Văn-Hưu nói rằng: “Đinh Tiên-Hoàng lấy tài-minh hơn người, dùng lược hơn đời, đương lúc nước Việt ta không có chủ, mọi kẻ hùng cát-cứ, nhất cử mà mười hai sứ quân phục cả mở nước dựng đô, đổi niên-hiệu, xưng hoàng-đế, đặt trăm quan, lập sáu quân, chế độ gần đủ: đó là ý giời vì nước Việt ta, lại sinh ra thánh triết, để nối quốc thống” (Đại-việt sử-ký tiền biên, bản kỷ, quyển 1. tờ 2b; Đại-việt sử-ký toàn-thư bản kỷ, quyển 1, tờ 2b 3a).  

Ngô Sĩ-Liên nói rằng: “ Nghiệp đế-vương dấy lên, chưa có ai là chẳng gốc ở giới. Song đứng thành-nhân chẳng dựa vào thuyết mệnh giời, chỉ tự mình làm hết việt: đời Việc đã xong, càng phải lo nghĩ để dự-phòng: sửa lễ nhạc hình-chính để phòng nhân-tâm, đặt chốn trùng-môn canh gác để ngăn-ngừa bạo khách, vì lòng dục nợ trời ta không biết thế nào là hết, thói đời không biết đâu là bờ ! chẳng cái gì là chẳng phải dự-phòng; lo xa về sau phải thế, để mưu cho cháu cũng phải thế. Cho nên Tiên-hoàng chết chẳng lành, vì việc đời làm chửa trọn, không phải mệnh giời không giúp”. (Đại-Việt sử ký toàn-thư, bản-kỷ, quyển 1, tờ 6b -7a).

Về việc vua Tiên-hoàng lập Hạng-lang làm thái-tử, Ngỏ-sĩ Liên bàn rằng: ( Nối đời dùng con cả là phép thường muôn đời ; nếu trái phép ấy, tất sinh ra loạn. Thỉnh-thoảng nhân đời loạn, lập thái-tử thì trước hết dùng người có công, hoặc con trưởng có lỗi ác thì bỏ, rồi mới lập con thứ. Đó là xử lúc biến mà hợp nhẽ phải: người đời xưa đều đã làm như thế. Nam Việt Vương Liễn là con trưởng Tiên-hoàng, và lại có công: chưa nghe có tội lỗi gì, mà Tiên-hoàng yêu con nhỏ, quên con trưởng, tưởng thế là tỏ tình yêu-dấu, chứ biết đâu rồi hại đến mình; còn Liễn lại nhẫn-tâm đến nỗi giết em, thế là thiên-luân tiệt diệt rồi: vạ ấy đến mình, lây cả đến cha, há chẳng dữ lắm thay! Nếu không thế thì sự đại-ác của Đỗ-Thích bởi đâu mà nảy mầm ra để cho hợp nhời sấm ? ) (Đại-Việt sử-ký toàn-thư, bản-kỷ, quyển 1, tờ 5a – 6b)

Nguyễn-Nghiễn ăn nói rằng: “Xét Tiên-hoàng lập Hạng Lang, trước lúc ấy động đất, sau lúc ấy mưa đá hạn hán: giời đã bảo cho người ta rõ-ràng, thế mà khinh-xuất, chẳng lo toan, chẳng sớm biết; muốn không mất, có được đâu ?” (Khâm-định Việt-sử thông-giám cương mục, chính biên, quyển 1 tờ 7b). Về việc vua Tiên-hoàng lập năm hoàng hậu, Lê Văn – Huu nói rằng: “Giời đất đều che-chở, mặt giời mặt giăng đều soi sáng, cho nên sinh thành muôn vật, nuôi nấng mọi loài, cũng như ngôi hoàng hậu sánh với vai thần-cực, cho nên làm nêu gióng-giả trong cung mà cảm hóa được thiên-hạ. Tự xưa chỉ lập một người để chủ nội-trị, chưa nghe thấy dựng đến năm hoàng-hậu bao giờ. Tiên-Hoàng là người không xét cổ-học, mà bấy-tôi bấy giờ lại không có ai giúp chính, đến nỗi say đắm tình riêng, lập năm hoàng-hậu ngang nhau. Đến đời sau: Lê (980-1009), Lý (1009-1225) hai nhà, cũng nhiều vua bắt chước, bởi Tiên-hoàng gây ra mối loạn” (Đại-Việt sử-ký toàn-thư,bản kỷ, quyển 1, tờ 3b).

Xem bấy nhiêu nhời bàn, đủ biết ngày xưa các nhà sử-thần chỉ phê-phán theo thuyết nho-giáo, chưa ai biết lấy con mắt nhà sử học, chủ ở khách-quan, đề xem, xét sự-nghiệp của một bậc đế vương tài-giỏi hơn đời.

Vua Tự-đức (1848-1883) cứng dựa vào quản-lý mà nói rằng:  “Thiên-đạo cho phúc người khiêm tốn, nhân-đạo răn sự tự khoe Đinh Tiên-hoàng là người bất-học vô-thuật, chuyên dùng sự kiêu-mãnh, đến nỗi cha con chẳng được chết toàn tính-mệnh: mới được hai đời mà đã mất. Nhân với bạo: hai đường khác nhau, có thể làm gương sáng Đinh Tiên-hoàng xưng hiệu là “Vạn thắng”, cùng với Tần Thủy Hoàng Long làm vua “ Vạn thọ”, cũng cùng một dấu cả, đi theo một vết xe. Thương thay ! (Khâm-định Việt sử thông-giám cương-mục, chính-biên, quyển 1. tờ 2b).

Đó là thời vua phê, không phải là nhời người làm sử Nhưng chính người làm sử cũng không chép kỹ đến phép dẹp loạn, cách tổ-chức của vua Đinh Tiên-hoàng. Hôi bấy giờ (năm 965-668) nam bắc phân-vân, các bộ sứ-quân đều xưng hùng-trưởng, chiếm giữ đất cõi ! vua Tiên hoàng cùng con cả làm thế nào làm thế nào mà dẹp yên ? khi  dẹp xong, cai-trị ra làm sao ? chia nước làm mười đạo là những đạo nào ? đặt quân-lữ ở những đâu ? giao-thiệp với nước ngoài ra thế nào ? có thật đã bắt đầu đúc tiền “Thái- bình” (970.979) là tiền đồng cổ nhất của nước Nam không ? Bấy nhiêu câu không thấy nhà làm sử nào nghiên-cứu tường tận, như nghiên-cứu việc lập hoàng hậu hay lập thái-tử. Sự khuyết-điểm đó có lỗi tại sử liệu, nhưng về phương-diện phê-phán, – là phương diện mà chúng tôi xét riêng trong bài này – có lẽ là tại người ta thường cho sứ-học với luân lý đi đôi với nhau.

Ứng hòe – NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)