“Sử ký” chép lầm hay quốc sử chép không đúng

Như Tri-lân số 23 đã nói, bản-chí mở ra mục này là cốt hoan nghênh những kiến giải của các bạn hoặc tỏ ý dị đồng đối với một vấn đề gì về sử học, hoặc tranh luận hay giải thích những điềm đáng ngờ trên trang lịch sử Việt-nam. Thì tiếng chuông của bản-chí đã có vang-dội. 

Trước tiên ông Kiều Thanh Quế nói về những điểm mà ông nhận là “Quốc sử chép đúng”, Sau đó, ông Lam Giang thảo luận lại với ông Kiều. Nay bản-chí lại nhận được bài sau đây của ông Lê- Văn-Hòe trả lời ông Kiều Thanh Quế, Bản-chí cú xin lấy công tấm mà lục đăng. Có điều cần phải thanh minh để các bạn rõ: Trong khi tranh luận một vấn đề về sử học cũng như về văn học v,v,.. ta cố giữ lấy thái độ vô tư của ngòi bút chân chính, chứ đừng dùng những mánh lới cạnh khóe về cá nhân. Vật bắt cử đối với bài của ai, bản chí hễ thấy có chỗ nào phạm vào những điều tối kỵ ấy, thì hết sức buộc phải tránh đi. Xin các bạn lượng bất cho.

T.T

Trong T. T. số 23, Ông Kiều Thanh-Quế có viết bài nhan là “Quốc-sử chép đúng” , chủ ý nói rằng con gái vua Hùng-vương thứ 18 đích là Mị-nương và con gái An-dương-vương đích là Mị-châu. Quốc sử chép rất đúng, không cần phải đính ngoa lôi thôi gì, như tôi đã làm trong cuốn Quốc-sử đính ngoa. 

Để chứng thực cho lời quyết đoán của ông, ông từng ra một tài liệu trích trong sách Sử-ký của Tư mã Thiên, mà ông cho là xác đáng lắm. Theo tài liệu đó, thì người Việt và người Âu-lạc đều thuộc họ Mị cả. Trước khi trả lời ông Kiều Thanh Quế, tôi hãy xin có lời cảm tạ ông và tôi rất lấy làm mừng rằng ngày nay các bạn thanh niên ta đã biết chịu khó trong tìm và đã dám mạnh bạo bước chân vào miếng đất khảo cứu sử học, như ông Kiều Thanh-Quế là một.

Tôi khen ông đã chịu khó đọc cả Sử-ký của Tư mã-Thiên, song tôi còn bất mãn về một điều là ông đọc sử một cách quá ư thụ động. Vì ông đã: 

  1. – Quá tin theo Sử-ký Tư mã Thiên cùng những học-giả chú thích sách ấy. 
  2. – Quả quyết rằng Quốc-sử | chép đúng;

🔸

Họ Hồng-bàng tính từ vua Kinh dương-vương cho tới hết 18 đời Hùng-vương (hay Lạc-vương), theo sự khảo-cứu của các nhà sử-học người Pháp, áng chừng vào khoảng từ năm 2879 đến năm 258 trước Thiên-chúa giáng sinh, nghĩa là ngang với các đời Hoàng đế, Nghiêu, Thuấn, Hạ, Thương An, Chu nước Tàu.  

Tư-mã-Thiên, tác-giả bộ Sử-ký, là một sử-gia sinh vào thời vua Hán Văn-đô, nghĩa là ngang với đời Triệu-đà, tức là sau đời Hùng-vương những 2000 năm. Không những cách nhau về thời-gian xa như vậy, mà về không-gian cũng chẳng gần gì. Tư-mã-Thiên là người Hán, còn người nước ta thời trước bị coi là dân mọi-rợ, sống làm sao thì sống, doanh-hư, tiên-trưởng, người Hán có thèm đếm-xỉa gì đến đâu. Thậm chí đến Triệu-Đà là người Tàu sang chiếm đất nước ta làm vua mà cũng tự xưng là “Man-di đại-truởng” với vua Tàu, nghĩa là chính “Triệu-Đà cũng coi dân dưới quyền mình là man-di cả.

Vả chăng, trước đời Hán Văn-đế (tức là đời Tư mã-Thiên) đời Tần cũng như Chu, đời Hoàng-đế, người ta chẳng thấy sách vở gì của Tàu nói đến lai lịch và gốc tích của tổ-tiên chúng ta.

Thế thì, mấy lời chép trong Sử-ký của Tư mã-Thiên lấy gì làm căn cứ mà tin là đích xác được ! Tư mã-Thiên có thể bịa đặt ra, tưởng tượng ra mà viết về gốc tích dân Nam-việt dưới quyền Triệu Đà. Thời thế xa vời, sơn xuyên cách trở, người Hán cũng như người Việt, không ai cãi được lời sử gia.

Thời-kỳ ấy ở nước ta cũng như nước Tàu, là thời-kỳ khuyết-sử, nên ngay sử của quê-hương (là nước Tàu) Tư-mã Thiên, cũng không thể chép xác-thực được, huống chi là sử nuớc ta.

Chẳng cần phải khảo-cứu gì nhiều, chỉ có một chút “lương tri” (bon sens), người ta cũng biết ngay là không thể tin được ở tài-liệu của Sử-ký về thời tiền-lịch-sử đó.

Cho nên, các nhà chép sử Pháp. Nam từ trước tới nay có ai chép người Việt và người An-lạc đều thuộc họ Mị đâu ? Ông Kiều-Thanh Quế chớ tưởng lầm trước Ông, không ai được cái hân-hạnh đọc bộ Sử-ký.

Hãy tạm cho sử-ký của Tư-mã-Thiên chép đúng, và chủ-kiến của Ông Kiều-Thanh-Quế không sai-lầm ta sẽ thấy ông mâu-thuẫn với ông: 

Nhận rằng Tư-mã-Thiên chép đúng tức là bảo rằng Quốc-sử chép lầm. Vì Quốc-sử chép họ các vua Hùng-vương (hay Lạc-vương) là họ Hồng-bàng: họ An-dương-vương là kẻ xâm-lược nước Văn-lang, là họ Thục, chứ không chép là họ Mị. Con trai vua Hùng-vương gọi là Quan-lang chứ không phải Mị-lang. Và giòng-dõi Hùng-vương cùng dân Việt sau này cũng không có ai là người họ Mị

Như vậy, thì một là cho rằng Quốc-sử chép lầm và nhận Tư-mã-Thiên chép đúng; hai là phải bảo Tư-mã-Thiên chép lầm và nhận rằng Quốc-sử chép đúng.

Đằng này, ông Kiều Thanh-Quế lại vừa nhận rằng Tư mã-Thiên chép đúng, vừa bảo Quốc-sử không lầm. Thành ra ông tự phản-đối mình.

Sở dĩ tôi muốn đính-chính tên Mị-Nương và Mị-Châu, là vì trong Quốc-sử trên có chép: Con gái vua gọi là Mi-nương dưới lại chép “con gái vua Hùng vương thứ 18 tên là Mi-Nương”.  

Nội “con trai vua gọi là Quan-lang, con gái vua gọi là Mị-nương” tức là nói Quan-lang và Mị nương là những danh từ chung để chỉ con vua. Danh-từ chung ấy sau lại xách lên làm danh-từ riêng, nên tôi nhận thấy có sự lầm. Thế thôi. 

Tôi tưởng ai cũng phải nghĩ như tôi, không ngờ Ông Kiều Thanh-Quế lại không nghĩ thế, nên tôi phải trả lời ở đây.

LÊ VĂN-HÒE

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)