Cách đây vài năm, rất lâu trước khi bất kỳ ai ngoài những người thân trong gia đình của TT Donald Trump coi ông ấy là một ứng cử viên nghiêm túc cho chức vụ tổng thống Hoa Kỳ, tôi đã viết một cuốn sách có tên “Media Madness” (“Sự điên rồ của giới truyền thông”). Trong cuốn sách đó, tôi đã dự đoán trước một số chuyện điên rồ của giới truyền thông mà chúng ta đang chứng kiến trong thời đại Trump.

Tổng thống Donald Trump phát biểu trong một cuộc họp báo tại Phòng họp báo James Brady của Tòa Bạch Ốc ở Washington vào ngày 18/09/2020. (Ảnh Alex Wong/ Getty Images)

Tôi đã viết cuốn sách vào khoảng thời gian mà nhà báo quá cố Charles Krauthammer, một bác sĩ tâm thần được đào tạo bài bản, đã đặt ra thuật ngữ Hội chứng rối loạn Bush (Bush Derangement Syndrome) để mô tả sự căm ghét của giới truyền thông đối với TT Bush khi đó, và những sự điên rồ bắt nguồn từ lòng căm ghét của các nhà bình luận cũng như các chính trị gia thiên tả thời bấy giờ.

Tuy nhiên tôi lại tập trung vào một căn bệnh ít cụ thể hơn và ít được xác định rõ ràng hơn, bắt nguồn từ một dạng bệnh mà người Pháp gọi là “ảo tưởng về sự cao cả (folie de grandeur)”.

Nói cách khác, giới truyền thông thậm chí đã phát điên lên vì sự quan trọng hóa bản thân. Phấn khởi với thành công của chính mình, theo như họ nghĩ, trong việc chấm dứt chiến tranh Việt Nam và nhiệm kỳ của tổng thống Richard Nixon, và càng bị khóa chặt hơn vào thói quen tư duy tập thể. Họ đã tin rằng tập thể của họ là những người phát ngôn đáng tin cậy và là những người duy nhất sở hữu “Sự Thật”.

Do đó, giới truyền thông tin rằng thế giới chỉ nhìn vào duy nhất một mình họ để xác định xem ai là người phù hợp và ai là người không phù hợp cho vị trí công quyền.

Tất cả điều này phụ thuộc vào việc giới truyền thông tự nghĩ rằng họ không thể mắc sai lầm, và đã dẫn đến việc bóp méo quan điểm đạo đức của họ. Vào nhiệm kỳ thứ hai của chính quyền Bush, họ đã hoàn toàn nghĩ rằng bất cứ ai có suy nghĩ khác biệt với họ về những vấn đề quan trọng thời bấy giờ, thì không chỉ là mắc sai lầm mà còn ngoan cố, thậm chí là xấu xa có chủ ý.

Điều ngược lại cũng đúng: bất kỳ chính trị gia nào khúm núm đi theo xu thế mà giới truyền thông ủng hộ thì xem như không bao giờ sai, cũng như chẳng bị ảnh hưởng gì từ các vụ bê bối, như một cựu phó tổng thống nào đó đang chứng tỏ điều này.

Dối trá và sai sót

Niềm tin của giới truyền thông vào sự sở hữu độc quyền của họ đối với Sự Thật cũng đã cho phép họ gọi bất kỳ ai có quan điểm khác biệt là “kẻ dối trá”.

Thực tế đó là những gì mà những người được gọi là đang “xác minh” dữ kiện của tờ Washington Post đã và đang làm đối với TT Trump. So với hầu hết những người gièm pha ngài tổng thống, thì họ khó tính hơn trong việc sử dụng từ “nói dối” (Lie), và thay vì đề cập đến hơn 20,000 lần từ bắt đầu bằng chữ “L” này, họ tỏ ra tin rằng ngài tổng thống đã phạm tội tuyên bố sai hoặc gây hiểu lầm.

Điều này bản thân nó đã là một tuyên bố sai hoặc gây hiểu lầm, bởi vì bất kỳ cái nhìn khách quan nào về những điều mà người “xác minh” dữ kiện cho là sai sẽ cho thấy những thứ như các lời nói đùa, những cường điệu từ sự thật (sử dụng thuật ngữ của chính ông Trump) và những quan điểm ​​không thể kiểm chứng được, những thứ mà tờ báo cuồng chống Trump không đồng ý.

Tuy nhiên, bạn thường xuyên đọc con số nghe có vẻ ấn tượng là 20.000 được trích dẫn, cả trên tờ Washington Post và và các tờ báo khác, như là một điều thực tế.

Trong làn sóng đầu tiên của “Sự điên rồ của truyền thông” dưới thời TT George W. Bush, từ “nói dối” đã được định nghĩa lại.

Có còn nhớ câu: Bush nói dối, dân chết (Bush lied, people died)? Sau nhiều năm mới cho thấy sự sai sót là khác với một lời nói dối (ví dụ, về sự tồn tại của vũ khí hủy diệt hàng loạt ở Iraq). Tôi đã chịu khó tra cứu lại định nghĩa của từ “nói dối” trong từ điển, thậm chí là nhiều từ điển. Thật ngạc nhiên khi tôi phát hiện một điều, ai đó đã quyết định rằng “một sai sót có thể là một lời nói dối”, và chỉ một trong các từ điển mà tôi tham khảo không đồng ý với định nghĩa này.

Nói cách khác, nếu bên A tuyên bố, dù hợp lý thế nào đi nữa, rằng anh ta không nói dối mà chỉ phạm phải sai sót, bên B bây giờ có thể dựa vào từ điển để nói rằng Bên A đã nói dối. 

Trong khi đó, sai sót của chính bản thân họ, ví dụ về câu chuyện thông đồng với nước Nga, vẫn chỉ là những sai sót (mặc dù họ thậm chí không thừa nhận nhiều về nó). Những sai sót của các nạn nhân của giới truyền thông có thể được thoải mái gọi là dối trá.

Giới truyền thông ủng hộ ‘sự điên dại’

Một khi quý vị được giới truyền thông đánh giá là một người tai tiếng, như TT Trump trong suốt bốn năm qua, thì quý vị thậm chí không cần phải mắc sai sót để bị buộc tội, không chỉ là tội nói dối mà còn là tội sát nhân.

Trong cuốn sách mới của Bob Woodward, với tựa đề đầy táo bạo “Sự điên dại”, vị phóng viên hàng đầu của tờ Washington Post về Watergate này ngụ ý đã tìm thấy vụ bê bối mới nhất, nếu không phải là lớn nhất, của TT Trump qua việc ông tiết lộ rằng ông đã biết về nguy cơ tử vong của virus Covid-19 hồi đầu tháng 2 nhưng đã chọn cách nói giảm đi tính nghiêm trọng của nó để tránh gây hoang mang.

Giờ đây, chúng ta đã biết quan điểm gây hoang mang của giới truyền thông, của nhiều thành viên chủ chốt trong Đảng Dân Chủ, thậm chí của cả Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh, chỉ xuất hiện từ cuối mùa xuân năm nay.

Nhưng giới truyền thông, theo sự dẫn dắt của Trung Cộng, giờ đây đều muốn sự hoang mang. Do đó, họ khăng khăng rằng họ luôn luôn hoang mang và bất cứ ai (như ông Trump chẳng hạn) muốn chống lại điều đó sẽ không chỉ bị kết tội là nói dối mà còn bị coi là người đã khiến 190,000 nạn nhân bị nhiễm bệnh thiệt mạng. Tôi biết vì tôi đã đọc nó trên Twitter.

Trong tiếng Pháp, “la rage” có nghĩa là bệnh dại. Tôi tự hỏi tựa đề cuốn sách của ông Woodward ám chỉ đến loại điên dại nào? Và ai đang thực sự bị mắc phải nó?

Ông James Bowman là một học giả thường trú tại Trung tâm Đạo đức và Chính sách Công cộng. Ông là tác giả của cuốn sách “Honor: A History” (“Kính trọng: Một lịch sử”), là một nhà phê bình phim cho tạp chí American Spectator, và là nhà phê bình truyền thông cho tạp chí New Criterion.

Quan điểm được trình bày trong bài viết này là ý kiến ​​của tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của The Epoch Times.

Tác giả: James Bowman
Biên dịch: Thanh Bùi