Hỡi Bạch-Đằng giang, nơi chiến trận

Của nước Nam nhà tự thủa xưa !

Hỡi Bạch-Đằng giang nơi Quốc-Tuấn

Đại thắng quân Nguyên cắm ngọn cờ !

Lô-xô sóng gợn, trời xanh ngắt,

Sa-tràng dấu cũ lấp vùi đâu ?

Nước đục lờ trôi, hào-kiệt khuất,

Hỏi tới ngày nay đã mấy thâu ?

Chiến công rực rỡ, gương thần võ,

Ngàn năm sáng tỏ cõi lòng dân.

Vạn-kiếp uy-nghi cung miếu cổ,

Khói về muôn hình bóng vĩ nhân.

?

Tựa đá chênh vênh nhìn bốn cõi :

Non chen, núi chởm, sống đồi cong,

Nhấp-nhô làng-mạc lênh đênh nổi,

Ruộng thấp, gò cao: lớp sóng đồng .

Hương thơm bay tới, hồn mê đặc,

Đổi mới giang-san khác lạ-lùng :

Kìa rừng rậm rạp, cây nghiêng lắc,

Theo dọc bờ sông khắp mọi vùng !

Kìa ai trên ngựa cương buông lỏng,

Đang ngắm hoa rừng, nước xuống vơi !

Đại-thế xem qua nơi yếu trọng,

Lão-tướng (1) sờ gươm, bỗng cả cười…

?

Phương đông lang-tổ mây hồng dệt,

Tiếng gáy gà xa, ngọn gió may.

Lính-tráng dân, quan, oai dũng liệt,

Tụ-tập trong rừng: bí-hiểm thay !

Tướng-quân Nguyễn-Khoát, bên cờ lệnh,

 Cổ-võ dân-gian đánh chẹn đường :

Nguyên-tặc phen này dù mọc cánh,

Khó lòng bay khỏi Bạch-Đằng giang.

Tựa làn sóng thúc đê bung vỡ,

Nghĩa binh chia việc, chuyện hân-hoan,

Ra sức cưa tre cùng xẻ gỗ,

Phạt cành, đẽo gốc, rộn rừng hoang.

?

Buổi sáng tinh sương trời mát mẻ,

Ào-ào nước rút cuốn bùn đi,

Một dải giang-tâm hai dặm lẻ

San-sát thuyền binh chứa gỗ, tre.

Trăm ngàn chiến-sỹ đang hăm-hở

Thi nhau đóng cọc khúc sông Đằng :

Kẻ giữ chân thang, người giáng búa

Đất cựa, đê lay, truyền động rừng.

Trên bờ đắp ụ, che hầm-hố.

Tiềm-tàng gạch, đá, mác, câu-liêm.

Dân binh, sốt-sắng, vui niềm-nở,

Huyết sôi sùng-sục, nói huyên-thuyên :

Những kẻ hôm nay đi cấy cọc, 

Ngày mai sén, gặt sốc đầu-lâu.

Những kẻ hôm nay làm khó nhọc,

Ngày mai say uống máu quân thù.

?

Mù tung cát bụi qua thôn xã,

Quan-quân vội vã tiến như bay,

Bỗng dừng chân đứng bên sông Hoá :

Sông cạn trơ bùn khó vượt thay !

Quốc-công Tiết-chế (2), trên vui xám,

Lặng ngắm hương-dân mải bắc cầu :

Lũ-lượt kéo ra trong ngõ xóm,

Đàn bà, con trẻ chạy đua nhau,

Già-cả theo sau đàn cháu chắt,

Tay ôm lễ-mễ rạ cùng rơm,

Mang giải ngang sông, làm tấp-nập

Lấy đường lính chảy quãng bùn trơn.

Voi xám, chẳng may vì quá nặng,

Sa lầy, nhỏ lệ, ngắm quân đi…

Hưng-đạo, đau lòng, giơ kiếm trắng,

Trông voi, gửi với một lời thề :

“Thề chẳng quay về nhìn sông Hoá

Nếu không quét sạch lũ binh Nguyên”

Dân-chúng ngậm-ngùi voi buồn-bã,

Chết đứng dần theo mực nước lên !

?

Mông mênh muôn dặm Đằng-giang phẳng,

In sắc hồng tươi, rọi bóng tà,

Đại-Việt hùng binh chèo lẳng – lặng,

Trông trời Tây-Bắc nẻo rừng xa ;

Răm trăm thuyền địch lô-nhô hiện,

Cờ bay phấp phới xuống Đông-Nam.

Nguyễn-Khoái hô quân, truyền thách chiến :

Thét mắng vang trời nhiếc giống tham.

Ô (3) tặc giậm chân, đầy tức khí,

Xông-xáo vung đao giữa trận tiền.

Mặc nước giao-tranh tài dũng-sĩ,

Giản đâm, chuỳ bổ, động thiên-biên.

Từng xanh lơ-lửng giăng mờ tỏ,

Say-sưa, mê ngắm cảnh trần gian :

Loáng-nhoáng đường gươm, bong lá mỡ.

Chập-chờn ngọn kích, rụng buồng gan.

Bỗng rúc còi lệnh trong giây khắc,

Quân Nam lui chạy, thẳng dòng sông.

Nguyên tướng vuốt râu, lòng hậm hực,

Chỉ roi, tận-lực đuổi kỳ cùng.

Giăng non (4) sớm khuất, mơ huyền ảo,

Nước vội ra đi, thúc dục giòng.

Chân – đê bay vọt thăng thiên pháo,

Thuyền Việt quay đầu đại phản công.

Gió rên, rừng hú, mây đen đặc,

Chiêng khua, trống đập, miệng loa vang.

Quân reo hoan-hỷ : “Anh em chặt…”

Tướng tá tung-hoành múa tít thương.

Bờ sông nổi, mọc muôn ngàn đuốc,

Ngọn lửa múa-mang, ánh dập-dờn,

Ùa lại ầm ầm như sóng nước :

Nhốn nháo Nguyên-binh sợ hoảng-hồn.

Quân Nam vững dạ, thêm hăng-hái :

Hưng-đạo, người giời, tiếp viện binh !

Ô, Phàn (5) bối rối, buồn tê-tái,

Áo Tích (6) mê cuồng, thất vía kinh.

Quân Nguyên hỗn-độn, chèo tung sóng,

Thuyền ngược sông đi, trốn chạy hoài.

Đuốc đuổi trên bờ: ma hiện bóng !

Nước xuống rì-rầm kéo các trôi…

Cọc nhọn nhô đầu, thuyền ụp vỡ.

Nguyên binh té-lộn, tiếng kêu cầu…

Đá ném dào-dào, tan nát sọ,

Tên bay tua-tủa, lách qua hầu.

Lao phóng trúng tim, tia máu vọt,

Mác xiên thủng bụng mớ lòng rơi.

Liều thân, Nguyên tướng mong ra lọt,

Lọt khỏi trùng vây kín đặc người.

Đồng bào Tư-Hãn ngoi lên cạn,

Câu-liêm móc cổ, kiếm vằm xương.

Họ hàng Tất-liệt, trong vòng trận,

Giày séo, đè nhau, chết ngổn-ngang,

Bùn đen nhào óc, thay chồng-chất,

Lấp khúc Đằng-giang, nước ứ tràn…

Dân Việt, thiên-thần, ken gót chặt,

Giặc Nguyên, quỷ sứ, bó tay hàng.

?

Phá vỡ mây đen xua đuổi sạch,

Bình-minh, chói-lọi, mở toang giời,

Quăng gươm, tráng sĩ, bên thành-quách,

Sướng nhẩy, ôm nhau, lệ ứa rơi…

Gió đùa hoan-lạc, xoay tròn lá,

Chim reo múa cánh, rộn từng không.

Ong mưng vỡ tổ, bay muôn ngả,

Bướm lượn tưng bừng dợp núi sông.

Đường tắt, ngõ ngang nô-nức bước,

Chị gọi, em theo, trẻ dắt già,

Mẹ bế bồng con đi đón rước,

Anh- hùng cứu-quốc, khải-hoàn ca…

                              H.MINH-TUYỀN

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

(1)  Nguyễn – Khoái.

(2) Quốc-công Tiết-Chế thống lĩnh thiên hạ chư quân là tước của chư quân là tước của Trần-Quốc-Tuấn Hưng-Đạo-Vương do vua Trần – Nhân-Tôn tiến-phong.

(3) Ô-mã-Nhi.

(4) Mồng tám tháng ba, năm Mậu-tý (1288), niên-hiệu Trùng-Hưng thứ tư.

(5) Ô mã-nhi, Phàn-Tiếp.

(6) Áo-Lỗ -Xích, Tích-lệ-Cơ-Ngọc.