Tưởng phong thái xót xa đòi đoạn,

Mặt rồng sao cách diễn lâu nay?

Có ai chốn ấy về đây?

Nguồn cơn xin ngỏ cho hay được đành

(Ai tư vãn)

Năm ấy à năm Bính Ngọ (1786), tiết tháng sáu. Ngày mồng sáu, Nguyễn Huệ tiến đến bến Vị Hoàng, sai người mang mật tấu dâng vua Hiển Tôn nhà Lê để tỏ rõ ý tôn phùng. Nhưng nhà vua cũng chẳng yên lòng; nhân dân kẻ chợ lại càng không yên lòng hơn nữa. Thế là một lương gió kinh khủng thổi rít khắp phố phường, người ta thi nhau chạy trước, lếch thếch mang theo nào hòm, nào đẫy, nào tay nải, không còn trật tự gì. Ngoài một số ít người hoặc vì nhiều của quá tiếc không muốn dời, hoặc vì không có của liều ở lại, đất Tràng An chỉ còn những người mắc việc quan.

Ngày hai mươi sáu.

Quân kiêu binh, còn anh nào, cũng cố lách đám đông để ra ngoại ô. Vua Hiển Tông đang phải cảm; nằm trên sập rồng giữa các hoàng tử và hoàng thân hoảng hốt, ngoài cũng chẳng bình tĩnh hơn. Thành đã vỡ, tiếng reo hò vang trời, lính Tây Sơn vào thành. Vua vẫn nơm nớp. Chợt quanh ngoài tường lố nhố không biết bao nhiêu mũ đỏ. Lính Tây Sơn đã vào đền trong. Các hoàng tử và các hoàng thân toan vực vua dạy để ra vườn sau đi trốn. Một tì tướng mũ đỏ bước vào. Máu mọi người đông đặc lại. Nhưng viên tì tướng kính cẩn dâng tờ tâu của Nguyễn Huệ đó thôi. Nguyễn Huệ chỉ nói cho người đến thỉnh an và xin đến mai vào hầu. Không sử sách nào chép, nhưng xem xong, vua hẳn thở dài một cái khoan khoái, mà có lẽ trong chốc lát bệnh lui đi được nhiều.

Hôm sau Huệ vào hầu vua ở đền Vạn Thọ có Nguyễn Hữu Trình đi theo. Vua mở màn mời Nguyễn Huệ vào gần sập. Huệ làm lễ: năm lạy, ba vái. Vua sai hoàng tử dắt Huệ ra mời ngồi riêng một sập bên cạnh sập rồng, nhưng Huệ khiêm tốn không dám ngồi; mãi tới khi vua dụ đôi ba lần, mới đến ngồi buông chân một bên. Vua bấy giờ đã bẩy mươi tuổi, lại thêm lo nghĩ quốc chính, phần vì mình rồng mỏi mệt, nên yếu lắm, se sẽ cất tiếng ôn tồn phủ dụ. Huệ đứng dậy thưa cái bản ý diệt Trịnh phù Lê của mình. 

Vua lấy làm yên lòng, truyền pha chè uống rồi cùng Huệ đàm đạo một lúc lâu, ngỏ ý muốn lưu Huệ lại giúp. Huệ nhận lời, đoạn lạy hai lạy xin lụi. Trỉnh theo ra. 

Sau Nguyễn Hữu Trỉnh nói với Nguyễn Huệ rằng:

– Minh công lại đây, cốt giúp vua Lê cho nhất thống; thần dân ai cũng tưởng vậy. Nhưng gọi là nhất thống, tất phải quyền chính do tự Hoàng thượng mới là thực sự. Vậy nên chọn ngày làm lễ đại triều đủ mặt trăm quan, Minh-công nói bộc bạch cho thiên hạ biết, mới là chính đạo. 

Huệ cho là phải nghe theo.

Ngày tốt là ngày mồng bẩy, tháng bẩy. Hoàng thượng khai chầu ở điện Kính Thiên, trăm quan vào chầu. Nguyên Huệ đem tướng sĩ tự cửa Đoan-môn đi vào, lạy năm lạy rồi tấn công việc diệt Trịnh, dâng sổ sách quân, dân, xin cắt quan ra quản-trị. Bãi triều rồi,

Hoàng thượng sai trăm quan tiếp Huệ ra ngoài cửa mới thôi.

Hôm sau, Hoàng thượng phong cho Huệ làm Nguyên súy, Phù chinh dực vận Uy quốc công.

Nguyễn Huệ chịu phong, sai sứ vào điện tạ ơn nhà vua, rồi bảo Nguyễn Hữu Trỉnh:

– Ta đem mấy vạn quân, đánh một trận định được Bắc Hà, một thước đất, một tên dân đều là của ta, nếu ta xưng đế, xưng vương, làm gì chẳng được. Thế mà ta nhường đi, là xử hậu tình với nhà Lê lắm. Còn như Nguyên súy Quốc công thì có ích gì với ta ! Dễ thường Triều đình Bắc Hà định lấy quan tước mà buộc ta chăng ? Nếu tà không chịu thì sợ Hoàng thượng bảo ta là kiêu; chịu mà không nói thì lại sợ người ta cho là mường mọi; cho nên ta nói chuyện lại với ngươi.

Cử chỉ thật là đầy trung hậu, đầy truân thành; ngôn ngữ thật không thiếu lễ độ, không thiếu khôn ngoan. Nhưng Nguyễn Hữu Trỉnh cho là Nguyên Huệ không bằng lòng, bèn thác lời vua Hiển Tôn mà rằng:

– Tôi nghe Hoàng-thượng có nói: Nhà trẫm kiệm bạc lắm, không lấy gì tặng cho Thượng công được. Vẫn biết danh tước nhỏ, có quí gì đâu ! Chỉ vì tục nuớc, trọng lề, gọi là đề kính cái bụng thành của Thượng công mà thôi. Và lại, ý Hoàng thượng cũng nghĩ rằng tuổi đã già cả, sợ khi Thượng công về rồi, không nhờ cậy vào ai được, nên có ý muốn kết thân với Minh công, nhưng chưa dám nói rõ vì không biết ý Minh công thế nào.

Nguyễn-Huệ bấy giờ đã có vợ rồi. Vợ là gái họ Phạm, quê ở Qui Nhơn, vốn chị em cùng mẹ khác cha với Bùi Đắc Tuyên và Bùi Văn Việt, Khi ấy, con lớn Nguyễn Huệ đã bốn tuổi. Nhưng đến bây giờ, người ta còn ca tụng chế độ đa thê, huống thời ấy ? Vả lại, Nguyễn Huệ đang cái tuổi ba mươi tr, hẳn cho việc

đi làm phò mã càng có cái “hay hay”, nên cười bảo Hữu Trỉnh:

– Nay ta là em vua Tây Sơn, mà làm rể vua nhà Lê môn đương hộ đối như thế, tưởng cũng là một việc ít có. 

Nguyễn Hữu Trỉnh biết Nguyễn Huệ ưng rồi, bền vội vã tấu với vua Hiển Tôn. Vua cũng bằng lòng và cho gọi tất cả công chúa ra xem người nào xứng đáng để Trỉnh tác thành cho,

Một lát, các cung nữ trở ra, có các công chúa theo sau. Nguyễn Hữu Trỉnh ngắm một lúc, tâm rằng:

– Thể được rồi, thật là mối duyên lành ! Tôi xin chu tất.

Nguyễn Hữu Trỉnh hớn hở ra mắt Nguyễn Huệ :

– Tôi đã đem những lời Minh công tâu với Hoàng thượng: ngài rất bằng lòng. Ngài có bảo tôi rằng:

Được ý Minh công như vậy cũng là thiên duyên. Ngài có bà công chủa tên là Ngọc Hân xin cho sung vào hậu đình đã liên lạc cái thân nghị hai họ.

Công chúa Ngọc Hân là con vua Hiển Tôn và bà Chiêu Nghi hoàng hậu. Hai ngài rất nhiều con. Công chúa đâu là người thứ chín, năm ấy vừa mười sáu tuổi, Ngày mà cuộc trung hưng được thành lập cũng là ngày cơ nghiệp nhà Lê bắt đầu suy vi. Khi công chúa ra đời, âu vàng tuy nhờ họ Trịnh được vững, mà nền thống nhất đã lay; quyền nhà vua chỉ còn là cái bóng ! Chúa Trịnh Lăng bức vua Lê trăm chiều, mà thân vua đâu đã yên. Giặc giã bốn phương liên tiếp nổi lên như đề báo trước một cơn giông tố hãi hùng.

Công chúa lớn lên trong bầu không khí nặng nề, ảm đạm lúc tàn cục. Thân là thân vàng ngọc, mà mắt trông chẳng lọi một nỗi khổ gì của giống người: lên, xuống, còn, mất, tan,hợp. Ảnh hưởng thời cục vì vậy đã để một ấn tượng sâu vào tâm khảm công chúa, khiến trong tuổi ngây thơ mà cô gái đã mang một linh hồn tràn ngập tình cảm. và công chúa mới mười sáu đã sẵn một tính cẩn trọng ngay người lớn hơn chưa dễ đã có.

Công chúa lại tư sắc hơn người; từ lúc bé, được giáo huấn ở trong cung đình, đã thông suốt đồ sử, lại tinh âm luật, văn quốc âm rất hay. Vua Hiển Tôn rất yêu  quí. Ngài thường bảo rằng: “Con gaí này sau nên gả làm vương phi, chớ không nên gả cho bọn phò mã tầm thường”

Thì cơ hội đã đến đó ? (tuy rằng đến trong những trường hợp khắt khe). Người phò mã được tin cử không phải trong khuôn khổ bọn tâm thuờng.

Nguyễn Huệ nghe Nguyễn Hữu Trỉnh nói cũng gật đầu. Nguyễn Hữu Trỉnh lật đật vào cung. Trước khi băng nhân đi, Nguyễn Huệ còn đặn:

– Ta xin chúc Hoàng thượng vạn tuế. Ta ở nơi thâm sơn cùng cốc mới đến, đâu dám đường đột như vậy, may sao được phụ vào kim chi ngọc diệp, thực là một cái duyên may, xưa nay chưa từng có, vinh hạnh biết là chừng nào !

Vua Lê bằng lòng gả Ngọc Hân công chúa cho Huệ.

Tin bay ra khắp thần kinh, ai nấy cho là một dai thoại chưa chắc có hai lần trong đời, có người cho Nguyễn Huệ dù có công dứt Trinh cũng chỉ là kẻ áo vải ở Tây Sơn, nay được dự vào hàng lá ngọc cành vàng thật vinh hạnh cho Nguyễn Huệ. Có kẻ lại mừng cho vua Lê đã khéo chọn và cho con lại còn tìm được người lương đống đề giữ gìn xã tắc. Rút lại, ai cũng biết cuộc hôn nhân thật là đẹp  “ trai anh hùng, gái thuyền quyên ” và chỉ mong tới ngày công chúa nghi gia.

TAM GIA

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)