Tiết Kiệm

Tiết nghĩa là dè-dụm điều-độ; Kiệm nghĩa là kiệm-ước tằn-tiện. Ta không nên lẫn “tiết-kiệm” với “bỏn-sẻn” hay “bủn-sỉn”.

Xa-xỉ thì là quá, bỏn-sẻn thì là bất-cập. Cho nên, để trào-phúng những người hà-tiện không phải đường, phong-nhân có câu:  

“Hà-tiện mà ăn cháo hoa, 

Đồng đường, đồng đậu cũng ra ba đồng”! 

Và nhiếc-móc những kẻ làm chồng hay hoang toàng rằng:

“Chồng em nó chẳng ra gì, 

Tổ-tôm sóc đĩa nó thì chơi hoang” 

Ở giữa khoảng hai cái cực-đoan ấy, tiết-kiệm là đức tốt nhất. Tiết kiệm là biết cư-xử một vừa hai phải, không lo  “ở rộng người cười, hẹp người chê”.

Từ xưa, Việt-nam là một nước trọng nông. Người ta thường phải “đổi bát mồ hôi lấy bát cơm”, nên phàm những người đã từng trải trong cuộc sinh-hoạt chân lấm tay bạn hay đã tiếp xúc với nông-dân trong cảnh cầy mưa cuốc nắng, thì không mấy khi vung tay quá trán, ném tiền qua cửa sổ để mua lấy những phút say sưa về vật-chất.

Sống một đời tiết-kiệm, họ có cái cao-thượng là không phải sống để mặc đẹp để ăn ngon, để ở sang.

Cái tiềm lực truyền sinh-khí cho quốc-gia Việt-nam từ xưa đến nay chính nhờ ở đức cần kiệm của nông dân một phần lớn. 

Để nêu những đức tốt ấy, trước, tôi đã nói đến “siêng năng” tức là “cần” rồi, nay xin lần-lượt nói đến “tiết-kiệm”.

🔶

Có thóc thì chẳng ăn dè, 

Đến khi hết thóc, ăn dè chẳng ra ! 

Đi đâu mà chẳng ăn dè, 

Đến khi hết của thì dè chẳng ra !

Thể phú. Đây là phong-nhân chê những người không biết lo xa, ăn bữa hôm không nghĩ đến bữa mai, tha hồ vung-phí trong khi có thóc gạo, tiền-của. Rồi cứ bốc rời quen tính, mỗi ngày số thu một không thăng-bằng với số chi, tất nhiên thóc bao nhiêu cũng đến ăn hết, tiền-của bao nhiêu cũng phải cạn dần, bấy giờ mới ngơ-ngác mà than-vãn: chỉ tại không biết tiết-kiệm. Khi đó, dù có muốn ăn thóc hay tiêu tiền một cách dè-dặt cũng chẳng còn đâu nữa ! 

Thế mới biết, ở đời, nếu không chịu phóng tầm mắt rộng, trông xa về tương-lai, thì đến khi đã lỡ dịp, dẫu hối cũng không sao lấy lại được nữa 

HOA BẰNG

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)