Nội trong các thứ nghệ thuật, văn-học đáng kể là có tư-cách già hơn hết và có ý-vị sâu-xa hơn hết. Văn-học chẳng những ban cho người ta những món học-thức và trí-tuệ, mà lại giúp cho thoát khỏi những cái kém-cỏi, thô-lỗ, thắp-hèn…  

Văn-học chẳng phải chỉ riêng đứng về giai-cấp tri-thức, song cũng thuộc về quần-chúng nữa. 

Văn-học là bạn-hữu thân-mật của hết thảy mọi hạng người; là món sinh-hoạt hằng ngày phải cần dùng đến. Nó kể cho ta những chuyện cổ tích truyền tụng từ đời nọ qua đời kia, nó diễn cho ta những vở kịch hi-kỳ kinh-ngạc, nó trình-bày với ta hoặc những nghị-luận cứng cỏi đanh thép, hoặc những tình cảm chan-chứa sâu-xa, hoặc những lý luận có hệ-thống, có phương-pháp…

Tùy theo tâm-ý của quần-chúng, văn-học cung-cấp cho mỗi người riêng một phương diện, cho nên chính bản thân nó đạt lên được đến địa-vị tột cao.

Kết quả của sự nghiên-cứu văn-học nảy ra một thứ phê bình có hệ-thống và tạo thành một loạt nhà phê- bình chuyênlâm nghiên-cứu văn-học.

Giá không nghiên-cứu thì không thể phê-bình. Giá không phê- bình cái đã nghiên cứu thì cũng không gọi là biết được tinh-tường, thấu-triệt, đến chốn đến nơi. Cho nên phê-bình và nghiên-cứu thường vẫn đi đôi, chứ không thể lìa nhau được. 

Qui-tắc dùng để phê-bình cũng không trọng yếu cho lắm. Vì mỗi thời-đại có qui-tắc của một thời-đại, mỗi dân-tộc có qui tắc của một dân-tộc, thường thường đổi thay, chứ không phải theo một qui tắc nhất-định nào cả. Điều cần nhất là nhà phê-bình phải cố giữ có con mắt công-bình, đúng-chắc, quán-xuyến, phải có tấm lòng thành-thực, đồng-tình và tối-kỵ là có thiên kiến. 

Tài-liệu của nhà phê bình là tác-phẩm văn-học; mục-đích của nhà phê bình là vận-động văn-học; trách-nhậm của nhà phê-bình là chẳng những thẩm định giá trị hơn, kém của các tác-phẩm văn-học, mà lại cốt quan-sát cái xu hưởng của nghệ-thuật và văn-học, rồi vận dụng cái ngón cao quý của nhà phê-bình

Ở Tây-phương, người ta nói về phê-bình đã nhiều lắm. Lucien Bulusfeld có nói:  “Không bao giờ được dùng sự thù hằn vào việc phê bình … Khi phê-bình, trung thực là một đặc sắc rất hiếm. Trung thực khi người ta nói những điều đã nghĩ, hoặc đừng nghĩ trắng lại biến ra đen; song thế cũng chưa đủ, Trung thực là sự cố sức đề nghĩ cho đúng”. Ý nói : phê bình phải cốt thật thà, chứ đừng nhìn đối tượng bị phê bình bằng con mắt thù ghét hoặc thiên lệch.

La Bruyère cũng viết: “Phê-bình là một nghề mà người phụng sự nó cần có nhiều lực hơn nhiều trí, cần làm việc nhiều hơn cần có học lực cao, cần tập quán hơn cần thiên tài”.

Thế là La Bruyère cho rằng trong nghề phê bình, trước phải cần có những tư cách như lực-lượng, sự làm việcthói quen, rồi, mới đến trí khôn, sức họcthiên tài.

Nhưng vì người ta ít khi cầm vững ngòi bút phê-bình cho được công chính, nên nhìn đến cảnh tượng phê-bình, nhà học-giả Gustave Lanson đã phải lên tiếng phàn nàn: “Hiện thời thể văn phê-bình đương gặp hồi khủng-hoảng, Hầu hết trên mặt báo chí, thể văn phê-bình đã phải nhường chỗ cho thể văn phóng sự… Vì tình bạn-hữu, người ta khen; vì sự thù hằn, người ta mạt sát…”

Phàm những nhà phê-bình chân-chính đều phải có tinh-thần này: bụng-dạ phải rộng rãi, thái-độ phải thẳng-thắn, công-bằng. Khi phê-bình, phải căn-cứ vào cuộc tiến-hóa của văn-học, phải vận-dụng tinh thần khoa-học cho hợp với nhu-cầu của thời đại.

Nhậm vụ của nhà phê-bình là phải đem tác-phẩm văn-học và vận-động văn-học tối-tân mà giới-thiệu cho đồng-bào. Đồng thời, nhà phê-bình lại phải dùng phương-pháp phê-bình thích-đáng để gây hứng thú và mùi-mẽ cho đa-số độc giả. 

Cho nên món phê-bình văn-học rất có quan-hệ đến cuộc thịnh, suy của nền văn-học.

ở Âu-tây, nghề phê-bình đã sớm phát-hiện rồi. Bắt đầu từ thế-kỷ XIV, nhà học giả Boccacio đã dụng công nghiên-cứu một cách sâu sắc, kỹ càng, đối với các tác-giả của cận-đại, đã mở đầu cho nghề phê-bình..

Qua thế kỷ XVIII, giáo sư Gray cũng chú-ỷ đều món nghiên-cứu ấy trong khi ông đang ngồi ghế giảng-dạy văn-học cận-đại ở trường Đại học. 

Nhà học-giả Lessi ng là một tay phê-bình rất lão luyện Những tác-phẩm của Ông đã gieo một ảnh-hưởng lớn trong văn học giới Đức.

Trên trang văn-học sử Pháp còn in tên tuổi nhiều nhà phê-bình

Trước Saigle Beuve (1804-1869), Boileau (1636-1711) đã phê-bình theo cái đích gồm hai ý: đặt ra những mực thước về nghệ-thuật và hứng-vị, phê-bình các tác-phẩm theo những mực-thước đó. 

Cái quan-niệm phê bình ấy còn tồn-tại ở đầu nửa thế-kỷ XIX. Người ta gọi nó là lời phê-bình độc đoán (critique dogmatique).

Khác với lối trên, Mme de Sail (1766-1817) theo lối phê-bình giải-thich (critique ex-plicative): khi phê bình, thì diễn dịch thay cho phán-đoán.

Những lỗi phê bình ấy không được chú-trong mấy. Người ta kể đến lối phê-bình cảm thụ (critique impressionniste), lỗi phê bình khoa học (critique scientifique) và lối phê bình độc-đoán hay định-lý. 

Hai nhà phê-bình Taine (18281893) và Ferdinand Brunetière (1849-1907), đằng thì muốn cho thề phê-bình như người ta theo bác-vật họ, đắng thì có cái năng-lực ám thị rất mạnh, đều là những tay cự-phách trong phê-bình-giới Pháp.

Người mình không phải là không có óc phê bình. Mà nghề phê-bình không phải không chớm nảy từ sớm. Ngay như trong phong-dao, ta thấy lối phê-bình văn-học đã phôi-thai rồi :

Văn hay chẳng lọ đọc dài, 

Vừa mở đầu bài, đã biết văn hay.

Và: 

Có đỏ mà chẳng có thơm 

Như hoa râm-bụt nên cơm cháo gì !

Ấy còn chưa kể những câu như “Hay thì khen, hen thì chꔓvăn hành công khí” là khác,.. . 

Thể văn phê-bình ấy tuy phác sơ mấy nét mà có ý-tứ vô cùng sâu-xa, mùi-mẽ vô-cùng mặn-mà đằm thắm. Nó, có thể nói, là thủy-tổ của lối phê-bình văn học ở nước ta. 

Tiếc rằng, về sau, vì lối học khoa cử làm cho nghẹt-ngòi. nên nó chưa có dịp bồng bột phát-đạt lên được. Mãi đến khi đụng-chạm với văn-hóa tây phương, chịu ảnh-hưởng của tư-tưởng Pháp, người cầm bút được viết theo những ý mình suy-nghĩ, không bị bó-buộc trong khuôn sáo trường-ốc, không phải nhắm mắt nô lệ cổ-nhân, nên trong địa-hạt văn-học, phê- bình đã chiếm được một địa-vị riêng, đã gây được một lực-lượng đáng để ý.. . 

Nhưng tương lai nó đáng lạc quan hay phải bi-quan còn tùy ở những ngòi bút phê-bình hiện-thời chân-chính hay thiên-vị, có thực-tài bay chỉ phù-phiếm, mơ-hồ….

HOA BẰNG

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)