Phần thưởng Nobel?

Nhiều bạn hẳn đã nghe nói.

Nhưng chắc ít ai tò mò, tìm tòi để biết phần thưởng ấy phân chia ra sao (vì nó có phải chỉ riêng về văn chương thôi đâu) và những nhà văn nào trên thế giới đã hân hạnh chiếm được phần thưởng văn chương Nobel từ trước đến nay.

Thực ra, muốn tìm tòi như vậy không phải là dễ. Chúng tôi để tâm về vấn đề này từ lâu, mà chưa từng được đọc một bài khảo cứu nào thật đầy đủ trong báo chí Pháp văn !

Những tài liệu dùng viết bài này, chúng tôi phải tra cứu trong những tập Larousse Mensuel, trong tạp chí Le Mois và trong tự điển La – rousse du 20e siècle.

Tạp chí Larousse Mensuel năm 1923 có bảng danh sách những người được phần thưởng Nobel từ đầu (nghĩa là từ năm 1901) cho đến năm 1922.

Tự điển La – rousse du 20e siècle cũng có một bảng danh sách từ đầu đến năm 1934.

Tạp chí Le Mois năm 1936 lại có một bảng danh sách nữa, từ đầu đến năm 1936.

Cả ba bảng danh sách ấy chỉ kê tên những người được thưởng và cho biết họ là dân nước nào.

Muốn biết rõ thân thế và sự nghiệp của từng người, chúng tôi  phải lục lọi trong các tập Larousse Mensuel từ số đầu (nghĩa là từ năm 1907 và trong tạp chí Le Mois cũng từ số đầu nghĩa là từ năm 1931).

Cách đây mười năm, dưới tên ký Nguyễn Tuấn Anh, chúng tôi đã viết một bài đăng trong Khoa học tạp chí, thuật tiểu sử ông Nobel.

Lần này, chỉ xin tóm tắt rằng Alfred – Bernard NOBEL là một nhà hóa học và kỹ nghệ Thụy Điển, sinh ở tỉnh Stockholm ngày 21 Octobre 1833, mất ở tỉnh San – Remo Ý ngày 10 Décembre 1896. Chính ông là người đã phát minh ra cốt mìn dy – namite và nhiều chất hoá học nguy hiểm khác. Khi đã trở nên triệu phú, ông mới nghĩ cách dùng đồng tiền cho có ích. Ông xuất ra một nửa số tiền cần dùng cho đoàn thám hiểm Andrée lên Bắc Cực.

Rồi, ngày 27 Novembre 1895, ở Paris, ông viết di chúc để lại một cái gia tài trị giá 43 triệu 500 ngàn phật – lăng; hằng năm lấy số tiền lãi ra, chia đều làm năm phần, thưởng cho 5 người nào “trong năm vừa qua đã giúp ích cho nhân loại nhiều hơn cả” :

  1. Một phần tặng người nào đã phát minh hay sáng chế cái gì quan trọng nhất về khoa vật lý học phy – sique.
  2. Một phần tặng người nào phát minh cái gì quan trọng nhất hay cải tạo cái gì đích đáng nhất về khoa hóa học chimie;
  3. Một phần tặng người nào phát minh cái gì quan trọng nhất về khoa sinh lý học physiologie hay y học médecine;
  4. Một phần tặng nhà văn nào sáng tác một văn phẩm có giá trị nhất trong địa hạt lý tưởng (idéalis – me);
  5. Sau cùng, một phần tặng người nào đã tận lực làm cho các dân tộc yêu quý nhau, tận lực vì chủ nghĩa thế giới hoà bình.

Như vậy, hằng năm có tới năm phần thưởng Nobel; mỗi phần thưởng trị giá tới 159.850 courou – nes, tính ra được độ từ 800 ngàn đến 1 triệu phật – lăng Pháp.

Riêng phần thưởng về văn chương thì do viện Hàn lâm Thuỵ Điển cấp cho.

Dưới đây, xin kê danh sách các nhà văn được phần thưởng văn chương Nobel từ 1901 đến 1939.

1901: Sully Prudhomme René – Fran cois – Armand, thi sỹ Pháp có chân trong viện Hàn Lâm nước Pháp sinh năm 1839, mất năm 1907. 

1902: Mommsen Teodor người Đức. Giáo sư về sử học ở trường đại học Berlin, sinh năm 1817, mất năm 1903.

1903: Bjoernson Bjoernstjerne – Marti – nius, thi sỹ Nauy, sinh năm 1832 mất năm 1910.

1904: Mistral Frédéric, thi sỹ Pháp, sinh năm 1830, mất năm 1914. Echegaray José văn sỹ Tây Ban Nha, sinh năm 1833, mất năm 1916. Hai ông này chia nhau mỗi người một nửa.

1905: SienKiewicz Henrik, văn sỹ Ba Lan sinh năm 1846, mất năm 1916.

1906: Carducci Giosua, thi sỹ Ý, giáo sư trường đại học Bologne, sinh năm 1835, mất năm 1907.

1907: Kipling Rudyard, thi sỹ và tiểu thuyết gia người Anh sinh năm 1865 mất năm 1936.

1908: Eucken Rodolf người Đức, giáo sư triết học ở Jena sinh năm 1846 mất năm 1926.

1909: Lagerlof Selma, nữ sỹ Thụy Điển sinh năm 1859 mất năm 1939.

1910: Heyse Poul, văn sỹ Đức sinh năm 1830 mất năm 1914.

1911: Maeterlinck Maurice. Văn sỹ Bỉ sinh năm 1862 mất năm 1949.

1912: Hauptmann Gerhart, văn sỹ Đức sinh năm 1862 mất năm 1946.

1913: Tagore Rabindrapath, thi sỹ Ấn Độ sinh năm 1861 mất năm 1941.

1914: Không ai được !

1915: Rolland (Romain), văn sỹ Pháp (sinh năm 1868). Ông Rolland mãi năm sau 1916 mới được lĩnh thưởng.

1916: Heidenstam (Werner von) văn sỹ Thuỵ Điển sinh năm 1859, mất năm 1940.

1917: Gjellerup (Carl Adolf), văn sỹ và thi sỹ Đan Mạch, sinh năm 1857, mất năm 1919.

Pontoppidan Henrik, văn sỹ và thi sỹ Đan Mạch, sinh năm 1857, mất năm 1943.

Hai ông này chia nhau mỗi người một nửa.

1918: Không ai được !

1919: Spitteler (Carl), văn sỹ Thuỵ Sỹ sinh năm 1845, mất năm 1924. Ông Spitteler mãi năm sau 1920 mới được lĩnh thưởng.

1920: Hamsun (Knut), văn sỹ Na Uy sinh năm 1859, mất năm 1952.

1921: France Anatole, văn sỹ Pháp, có chân trong viện Hàn Lâm nước Pháp, sinh năm 1844, mất năm 1924.

1922: Benavente Jacinlo, văn sỹ Tây Ban Nha, sinh năm 1866 mất năm 1954.

1923: Yeats (William Butler), thi sỹ Ái Nhĩ Lan (Irlande) sinh năm 1865, mất năm 1939.

1924: Reymont Ladislas, văn sỹ Ba Lan, sinh năm 1868, mất năm 1925.

1925: Shaw George – Bernard, văn sỹ Anh, sinh năm 1856, mất năm 1950.

1926: Deledda (Grazia), nữ sỹ Ý, sinh năm 1875, mất năm 1936. Bà Deledda mãi sau năm 1927 mới được lĩnh thưởng.

1927: Bergson (Henri), triết học gia người Pháp có chân trong viện Hàn lâm Pháp, sinh năm 1859, mất năm 1940. Ông Bergson mãi năm sau 1928 mới được lĩnh thưởng.

1928: Undset (Sigrid) nữ sỹ Na Uy, sinh năm 1882, mất năm 1949.

1929: Mann (Thomas), văn sỹ Đức sinh năm 1875, mất năm 1955.

1930: Lewis (Sinclair), văn sỹ Mỹ, sinh năm 1885, mất năm 1951.

1931: Karlfeldt Erick Axel, thi sỹ Thụy Điển, sinh năm 1864, mất năm 1931.

1932: Galsworthy (John), văn sỹ Anh sinh năm 1867, mất năm 1933.

1933: Bounine Ivan, văn sỹ Nga, sinh năm 1870,  mất năm 1953.

1934: Pirandello (Luigi), văn sỹ Ý, sinh năm 1867, mất năm 1936.

1935: Không ai được !

1936: O’neill (Eugène Gladstone), văn sỹ Mỹ, sinh năm 1888, mất năm 1953.

1937: Martin du Grad (Roger), văn sỹ Pháp sinh năm 1881, mất năm 1958.

1938: Buck (Pearl S), nữ sỹ Mỹ, sinh năm 1892, mất năm 1973.

1939: Sillanpaa (Frans Eemil), văn sỹ Phần Lan, sinh năm 1888, mất năm 1964.

Nếu so sánh quốc tịch của những người được thưởng, thì thấy:

Pháp được lĩnh thưởng 5 lần rưỡi 1901 – 1904 (một nửa) – 1915 – 1921 – 1927 – 1937.

Đức được 5 lần 1902 – 1908 – 1910 – 1912 – 1929.

Anh được 4 lần 1907 – 1923 – 1925 – 1932.

Ý được 3 lần 1906 – 1926 – 1934.

Na Uy được 3 lần 1903 – 1920 – 1928.

Thụy Điển được 3 lần 1909 – 1916 – 1931.

Mỹ (Hoa Kỳ) được 3 lần 1930 – 1936 – 1938.

Ba Lan được 2 lần 1905 – 1924.

Tây Ban Nha được 1 lần rưỡi 1904 (một nửa) – 1922.

Còn những nước sau này, mỗi nước được 1 lần: Nga 1933, Phần Lan 1934, Bỉ 1911, Thụy Sỹ 1919, Ấn Độ 1913.

Biết bao giờ Việt Nam nhà ta có một nhà văn nào được phần thưởng Nobel???

Nếu so sánh về tuổi của các nhà văn năm họ được thưởng, thì thấy số đông đều là bậc lão thành cả. Mommsen được thưởng năm 85 tuổi, Paul Heyse năm 80 tuổi, Anatole France năm 77 tuổi, Mistral và Spitteler năm 74 tuổi, Echegaray và Carducci năm 71 tuổi, Pirandello, Bergson và Shaw năm 70 tuổi, SienKiewicz Henrik năm 59 tuổi, Selma Lagerlof năm 51 tuổi, Thomas Mann năm 54 tuổi. Karlfeldt được thưởng 6 tháng sau khi đã chết (67 tuổi).

Còn điều này đáng chú ý, cả thảy có 4 nữ sỹ được thưởng là bà Sel – ma Lagerlof 1909, bà Grazia Daledda 1926, bà Sigrid Undset 1928 và bà Pearl S. Buck 1938.

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)