Tri-Tân tiếp được bài sau này của ông bạn Long-Hiền Nguyễn Văn-Minh khảo thêm về Trạng Me và Trạng Ngọt, vậy xin lục đăng cho rộng phần kê-cứu,- TT.

Ông Tiện-Đàm, trong 1 tạp-chí Tri-Tân số 15 ra ngày 19-9-41, có kể câu chuyện “Trạng Me đè Trạng Ngọt” theo khẩu truyền, không được rõ lắm. Nay chúng tôi khảo-cứu biết được đến đâu, xin cống hiến độc-giả đến đấy:

Sao gọi là Trạng Me !  Sao gọi là Trạng Ngọt ?

Trạng Me chính tên là Nguyễn giản-Thanh, con cụ Tiếp-sĩ Nguyễn-giản-Liêm, người làng Ông mặc (nay cải là Hương-mặc) huyện Đông ngàn, tỉnh Bắc-ninh, đỗ Trạng nguyên khoa Mậu-thìn năm Đoàn-khánh thứ 4 (1508) đời vua Lê Uy-Mục.

Nước ta, về cổ thời, mỗi làng đều có tục danh, như làng Xính-kế (Bắc-ninh) tục danh là làng Ké nên gọi ông Giáp-Hải là Trạng Ké; làng Phùng-xá (Sơn-tây) tục danh là làng Bùng, nên gọi Ông Phùng-khắc-Khoan là Trạng Bàng (1).

Ông Nguyễn-giản-Thành, người làng Ông-mặc, chắc tục danh là làng Me (2). Cứ suy cách đặt tên tục và tên chữ hai làng trên, thì có lẽ người ta phân tên tục mà đặt ra tên chữ như; làng Ké đặt là Xính-kế (4), làng Bùng đặt là Phùng xá.Đến khi ông Giản-Thanh đỗ Trạng, thời nhân mới gọi là Trạng Me.

Trạng Ngọt chính tên là Hứa-Tam-Tỉnh, người làng  Vọng-nguyệt huyện Yên-phong (Bắc Kinh) (chưa khảo được

gia-thế), đỗ Bảng-nhỡn cùng khoa với ông Nguyễn-giản-Thanh. 

Làng Vọng-nguyệt, chắc tục danh là làng Ngọt, nên ông Hứa-tam-Tỉnh tuy đỗ Bảng nhỡn, nhưng vì người đẹp, được vua Lê-uy-Mục lấy đỗ Trạng-nguyên, nên mới gọi là trạng Ngọt.

Theo văn tài, Ông Nguyễn-giản-Thanh đỗ Trạng-nguyên là nhất, ông Hứa-tam-Tỉnh đỗ Bảng-nhỡn là nhì. Lúc vào bệ kiến, vua thấy ông Giản-Thanh xấu, ông Tam-Tỉnh đẹp, liền cho Ông Hứa-tam-Tỉnh đỗ thứ nhất là Trạng-Nguyên, đánh ông Giải-Thanh xuống thứ hai là Bảng-nhỡn. Vì thế, thời nhân chế, thường gọi ông Hứa-tam-Tinh là Trạng Đẹp (Mạo Trạng-nguyên).

Còn câu chuyện khiêng võng dạm vợ, xin sẽ khảo sau. 

Long-Hiền Nguyễn Văn Minh  

(Theo tài liệu trong bộ Đại-nam lịch-sử địa-dư từ-điển của tác giả).

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

(1) Theo Nam hải dị nhân, ông Phùng-khắc-Khoan đỗ chế khoa Tiến sĩ khoa Canh thìn, niên hiệu Quang Hưng thứ 3 (1580) đời vua Lê thế Tôn, đi sứ sang Tàu, gặp tết nguyên đán, vua Tàu sai các đình thần và các sứ thần ngoại quốc mỗi người dâng một bài thơ chúc mừng. Ai cũng chỉ làm được một bài, duy ông Khoan làm tới 36 bài. Vua Tàu phục là giỏi, phê cho đỗ trạng – Lời chua của tác giả. (Nhưng theo Lịch triều hiến chương, Nhân vật chí, của Phan huy Chú, thì Phùng, khi ở Yên kinh, gặp lễ Vạn thọ của vua nhà Minh, có dâng 13 bài thơ. Vua Minh phê rằng: “ Nhân tài ở đâu chả có !” – L. T. S.)

(2) Ở tổng Thị chanh, phủ Binh giang, tỉnh Hải dương, cũng có những bảy làng Me, như Me kiều, Me vàng, me thữ, Me khê v, v.- L. T, S. ,

(3) Về tên chữ và tên tục (tức tên nôm) của các làng, nay vẫn chưa thể căn cứ vào đâu mà nói chắc rằng nhân tên tục đặt ra tên chữ, hay nhân tên chữ đặt ra tên tục. Nhưng việc này lại là một vấn đề khác. – L. T. S. 

(4) Trong Bắc giang địa chí của Nhật nham Trịnh như Tấu nói làng Dĩnh ko thuộc tổng Dĩnh kế, phủ Lạng giang, tỉnh Bắc giang trang (266) Vậy chẳng hay Dĩnh kế này có phải là làng Xính kế? – L. T, S.