Mỗi khi hoa đào nở dưới bầu trời se lạnh, tiết khí đất trời đang giao mùa, tự nhiên trong lòng lại nao nao bao cảm xúc, nghĩ về sự đời, về dĩ vãng và tương lai. Xen với những chuyện vui là cả nỗi buồn, sự nuối tiếc những gì không trở lại. Đã qua đi là bao kỷ niệm xưa, là tuổi thơ bên người mẹ tần tảo lo cho gia đình, là mối tình đầu ngây thơ trong sáng…

Tết mang theo phong vị cổ truyền như muốn níu lại chút thời gian, níu lại chút nhịp đời hối hả. Có lẽ vì thế mà mỗi khi Xuân về, hình ảnh Ông Đồ lại thoắt ẩn thoắt hiện trong tâm trí những người hoài cổ, và đâu đó một vài câu thơ ngân nga vang vọng trong đầu: “Mỗi năm hoa đào nở – Lại thấy ông đồ già…”

Bài thơ “Ông Đồ” được đăng lần đầu trên báo Tinh Hoa năm 1936. Tác giả Vũ Đình Liên (1913–1996) quê gốc Hải Dương nhưng sống ở Hà Nội. Tuy sáng tác thơ không nhiều nhưng chỉ với bài “Ông Đồ”, thi sĩ Vũ Đình Liên đã có một vị trí vững chắc trên thi đàn Việt Nam. Thuộc dòng thơ mới thời bấy giờ, bài thơ chỉ vỏn vẹn 5 đoạn, mỗi đoạn 4 dòng, và mỗi dòng 5 chữ. Ấy vậy mà bài thơ đó đã để lại trong tâm khảm muôn người Việt một nỗi niềm khó tả. Cứ như thi sĩ Vũ Đình Liên đã nói hộ bao người ước mơ rằng  tinh hoa tinh thần Việt luôn mãi trường tồn… Bài thơ chính là tấm lòng của một người nặng lòng với tổ quốc, với những nét văn hóa cổ truyền ngàn năm của dân tộc. 

Bối cảnh thời bài thơ được sáng tác là giai đoạn “tống cựu nghinh tân” lịch sử của nền văn chương ngôn ngữ nước nhà – cái thời cựu học (chữ Hán Nôm) nép mình nhường bước cho chữ Pháp và chữ Quốc Ngữ. Bằng việc sử dụng hình ảnh hoa Đào và ông Đồ trong phần đầu và cuối bài thơ, tác giả đã khắc họa thành công hai hình ảnh tương phản: Ông Đồ thời vàng son và Ông Đồ khi thất thế. 

Thuở xưa các thư sinh dùi mài kinh sử với ước mong quan lộ hanh thông công danh sáng tỏ, nhưng cũng có vị lận đận đường thi hoặc không thích hợp quan trường. Họ về nhà vui thú điền viên đem lễ nghĩa thánh hiền dạy lại cho thế hệ sau; dân ta hay gọi là Ông Đồ. Với thói quen trọng chữ của dân ta, các ông đồ được người đời trọng vọng, tôn kính. Ngày lễ tết hằng năm, người đời đến với thầy đồ không chỉ để bày tỏ tấm lòng thành mà còn để cung kính xin lấy những chữ “Tâm”, “Đức”, “Thọ”, “Lộc”… Và cứ thế, tập tục xin chữ này trở thành một tập tục ngày Tết cổ truyền Việt Nam. 

Một ông đồ đang bày giấy mực viết chữ trên một con phố Hà Nội, năm 1915. (Ảnh: Bức hình này nằm trong bộ sưu tập về Hà Nội của tác giả Albert Kahn.)

Ông Đồ

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực Tàu, giấy đỏ

Bên phố đông người qua

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài:

“Hoa tay thảo những nét

Như phượng múa, rồng bay”

Nhưng mỗi năm, mỗi vắng

Người thuê viết nay đâu

Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu

Ông đồ vẫn ngồi đấy 

Qua đường không ai hay

Lá vàng rơi trên giấy 

Ngoài trời mưa bụi bay 

Năm nay đào lại nở 

Không thấy ông đồ xưa 

Những người muôn năm cũ 

Hồn ở đâu bây giờ?

Trong hai khổ thơ đầu, tác giả đã mượn màu sắc tươi thắm của hoa đào, màu đỏ của giấy, màu đen nhánh của mực tàu, kết hợp với sự đông vui náo nhiệt nơi phố chợ làm phông nền cho nhân vật Ông Đồ. Sự phác họa ấn tượng đến nỗi kể từ đó, hình ảnh Ông Đồ trở nên thân quen và không thể thiếu đối với người dân Việt mỗi dịp tết đến xuân về.  

Ông đồ xưa. (Ảnh: Tài sản công)

Thời bấy giờ ở phố Hàng Bồ (Hà Nội) có một ông Đồ ngồi viết chữ cho người thưởng ngoạn. Phố này chuyên bán hàng xén, có đầy đủ các mặt hàng giấy, bút, mực. Ông Đồ nghèo không trữ sẵn giấy mà chờ khi có khách đặt mới vào gian hàng xén mua. Cô hàng xén ở cửa hiệu này được chàng thanh niên Vũ Đình Liên để ý, rồi sau trở thành vợ ông. Ông từng tâm sự nếu không có chuyện tình lãng mạn ấy thì chưa chắc đã có cảm hứng sáng tác bài ‘Ông Đồ’.

Đoạn thơ thứ ba bắt đầu cho thấy quy luật tân trần đại tạ của vũ trụ. Đặc biệt là cũng màu ‘giấy đỏ’ ấy nay lại biết ‘buồn’ bên ‘nghiên sầu’ dưới ngọn bút tài tình của tác giả, khiến lòng người không khỏi chùng xuống. Hình ảnh chiếc lá vàng lạc lõng rơi trên tấm giấy đỏ vào mùa xuân đã phác họa lên sự tàn phai của tập tục chơi câu đối đỏ ngày Tết của dân Việt, làm tăng phần xót xa tiếc nuối một thời kỳ vàng son, vì người ta đã không còn quan tâm đến nét đẹp văn hóa xưa. 

Có lẽ vì tiếc thương cho một giá trị tinh thần không còn tồn tại mà bài thơ “Ông Đồ” đã được chuyển ngữ sang hơn mười thứ tiếng như Anh, Pháp, Trung Hoa, Đức, Nga, Thụy Điển, Ả Rập, Đan Mạch… Đặc biệt một tờ báo ở Phi Châu đã cùng một lúc in bài thơ này bằng ba thứ tiếng Anh, Pháp, Ả Rập. Có ba dịch giả đã chuyển “Ông Đồ” sang Pháp ngữ, người dịch đầu tiên là phóng viên của tờ “Humanité“.  

Rất may là bài thơ “Ông Đồ” không bị rơi vào quên lãng và không phải chịu số phận hẩm hiu như nhân vật chính trong thơ. Bài thơ vẫn được truyền tụng và hình ảnh “Ông Đồ” vẫn là hình ảnh thân thiết không thể thiếu về những giá trị xưa cũ trong thơ ca ngày Tết. 

Mấy năm nay, vào dịp Tết đã thấy xuất hiện trở lại những ông đồ áo thâm vấn rế viết chữ cho người thưởng ngoạn. Ông đồ ngày nay thuộc đủ mọi lứa tuổi, trẻ nhất vào khoảng hơn hai mươi và các cụ già nhất có khi đến 80. Tất cả ông đồ đều hãnh diện rằng họ ra chợ vào dịp tết là để ‘cho chữ’ chứ không phải ‘bán chữ’. Người gặp ông đồ thì phải nhận là ‘xin chữ’ chứ không phải là mua. Việc mua bán là điều cấm kỵ trong làng chữ nghĩa, và nét truyền thống ấy vẫn còn phảng phất đâu đây.

Chữ viết có thể không còn là những Hán tự như thuở nào. Nhiều người chỉ muốn xin chữ Việt vì họ quan niệm “Xin chữ mà không hiểu ý thì chỉ là hình thức, không trọn vẹn.” Dù sao thì những chữ được xin cũng là tinh hoa của thánh hiền, là những lời nhắc nhở con người trở về với bản tính lương thiện chân thật, hoặc là những câu đối đem lại bình an may mắn. Thư pháp chữ Việt phát triển khá mạnh trong Sài gòn, cũng là những nét rồng bay phượng múa như thuở nào; nhiều tấm thật đáng được xem như tác phẩm nghệ thuật. Ở Hà Nội thì hình ảnh các ông đồ bên nghiên mực nơi Quốc tử Giám hay Phố Ông Đồ lại xuất hiện như một biểu tượng ngày Tết thời nay. Người người, nhà nhà lại nô nức đến Phố Ông Đồ để xin những câu đối trang trí nhà cửa. Hình ảnh các nam thanh nữ tú nâng niu từng khuôn chữ mới xin được cũng xúc động làm sao. 

Nếu Ông Đồ của thi sĩ Vũ Đình Liên còn sống đến ngày nay, chắc ông sẽ thôi thở dài cho số phận hẩm hiu phải xếp bút lông nhường chỗ cho bút chì bút mực của thế hệ ông. Theo quy luật xoay vần muôn đời của tạo hóa, hoa đào lại nở dưới nắng xuân, Ông Đồ lại xuất hiện như một thói quen, như một điều hết sức hiển nhiên vốn thế. Hình ảnh của ông gắn liền với bút lông, mực Tàu, giấy đỏ… Tất cả là phông nền văn hóa cho một truyền thống của dân ta: Đó là Xin Chữ ngày Tết với mong ước một năm mới bình an.

Ở một nơi nào đó, có lẽ thi sĩ Vũ Đình Liên rất muốn kéo dài bài thơ “Ông Đồ” thành bẩy khổ thơ, lấy hai khổ thơ đầu làm điệp khúc để tạo ra một kết thúc có hậu, như một sự thủy chung như nhất, như châu về hợp phố, vì ông đồ ngày nay đã sống dậy trong lòng người dân Việt; tập tục xin chữ đã hồi sinh. Thi sĩ Vũ Đình Liên quả đã thành công trong việc nhắc nhở hậu thế bảo tồn truyền thống văn hóa dân tộc. Tấm lòng của ông thật đáng được trân trọng!

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực Tàu, giấy đỏ

Bên phố đông người qua

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài:

“Hoa tay thảo những nét

Như phượng múa, rồng bay”


Thi Thi